Home / Di tích / Chùa / DI TÍCH CHÙA MỘT CỘT DẤU ẤN ĐỘC ĐÁO CỦA PHẬT GIÁO THỜI LÝ

DI TÍCH CHÙA MỘT CỘT DẤU ẤN ĐỘC ĐÁO CỦA PHẬT GIÁO THỜI LÝ

Chùa Một Cột hay Chùa Mật (chữ Hán là Nhất Trụ tháp —, còn có tên khác là Diên Hựu tự hoặc Liên Hoa Đài, “đài hoa sen”). Chùa một cột có tên tiếng anh là One Pillar Pagoda.  Đây là ngôi chùa có kiến trúc độc đáo ở Việt Nam, mang đậm dấu ấn Phật giáo thời Lý còn tồn tại đến ngày nay trên mảnh đất Thăng Long – Hà Nội một ngàn năm tuổi.

1. Lịch sử kiến tạo, trùng tu và sự tích Chùa Một Cột

Chùa Một Cột xưa kia nằm ở vị trí phía Tây Hoàng thành Thăng Long, bên ngoài cửa Quảng Phúc. Theo Thăng Long cổ tích khảo, xa xưa nơi đây hoang vu không có thôn làng, chỉ có một cái hồ. Thời nhà Đường, An Nam đô hộ phủ Cao Biền từng cho đây là sông lưng của con rồng đang đi, vì vậy đã cho xây đồng trụ ở đó để chặt đứt long mạch, về sau dân đến lập thôn ấp gọi là thôn Nhất Trụ. Tương truyền đến cuối đời, Lý Thánh Tông (1054-1072) không có con trai nối dõi, đang đêm mộng thấy Phật Quan Âm mời ông đến thôn Nhất Trụ, lên đài sen trao cho một cậu bé rồi nói với vua: “Nơi đây rất linh thiêng, Đồng Trụ làm tổn thương long mạch đã lâu, hãy mau mau phá hủy nó đi thì Quốc tổ sẽ được lâu bền. Nếu không sẽ bị mất đấy”. Vua tỉnh dậy mới cho xây một trụ đá ở giữa hồ, trên trụ đá ấy xây ngôi chùa trông giống hình bông sen nổi trên mặt nước, nên ban cho tên chùa là chùa Diên Hựu. Năm sau vua sinh hoàng tử.

Đọc chậm: Tìm về ngôi Chùa Thiền Lâm Tây Ninh (Chùa Gò Kén)

chùa một cột hà nội
Chùa Một Cột ở đâu

Đại Việt sử ký toàn thư viết: Năm Kỷ Sửu, [Thiên cảm Thánh Vũ năm thứ 6 – 1049], mùa đông, tháng 10, dựng chùa Diên Hựu. Trước đây vua chiêm bao thấy Phật Quan Âm ngồi trên tòa sen, dắt vua lên tòa. Khi tỉnh dậy, vua đem việc ấy nói với bầy tôi, có người cho là điềm không lành. Có nhà sư Thiền Tuệ khuyên vua làm chùa, dựng cột đá ở giữa đất, làm tòa sen của Phật Quan Âm đặt trên cột đá như đã thấy trong mộng. Vì thế gọi là chùa Diên Hựu.

Hoàng giáp triều Lê là Trần Bá Lãm từng vịnh thơ:

Hương thôn xóm vắng chốn thành xưa,

Diên Hựu Thánh Tông đặt tên chùa.

BỞi lẽ thâm cung hoàng lương mộng,

Bồ Tát Quan Âm hiển linh chưa!

Vì chùa được dựng ở trong vườn cấm phía Tây Hoàng thành Thăng Long nên trở thành chùa riêng của Hoàng gia. Buổi khởi dựng, chùa còn đơn giản nhưng đã là hình ảnh bông sen khổng lồ nở trên mặt nước. Năm Anh Vũ Chiêu Thắng thứ 5 (1080), vua Lý cho đúc một quả chuông lớn và dựng một tòa phương đình cao 8 trượng, xây toàn bằng đá xanh làm nơi treo chuông. Chuông đúc tại một khu ruộng cạnh chùa. Khi đúc xong, chuông lớn quá, không đưa vào treo trong phương đình được, đành phải để tại mặt đất mà đánh. Do đó chuông đánh không kêu, cho là đã thành khí không nên tiêu hủy, mới để ở ruộng chùa. Lâu ngày, ruộng ngập nước, rùa chui vào chuông làm tổ, nên đời sau gọi khu ruộng ấy là ruộng Quy Điền và chuông Quy Điền. Chuông Quy Điền cùng với Vạc chùa Phổ Minh, tượng Phật chùa Quỳnh Lâm và tháp chùa Báo Thiên hợp thành bộ “An Nam tứ đại khí” nổi tiếng là thành tựu về nghệ thuật và kĩ thuật tuyệt vời ở đương thời. Rất tiếc quả chuông thời Lý độc đáo, kì vĩ ấy đến nay không còn. Một số nguồn tư liệu cho rằng quân Minh, trong 20 năm đầu thế kỉ XV, xâm lược và thống trị nước ta đã phá hủy quả chuông này trong kế hoạch hủy diệt văn hóa truyền thống Đại Việt để âm mưu đồng hóa, nhất là ở giai đoạn cuối cuộc xâm lược, chúng rất cần đồng để đúc vũ khí chống lại quân khởi nghĩa Lam Sơn.

Năm Tân Tỵ niên hiệu Long Phù năm thứ 1 [1101], (Tông Huy Tông Cát, Kiến Trung Tĩnh Quốc năm thứ 1) chùa được sửa chữa một lần.

Mùa thu, tháng 9, năm 1105, vua Lý Nhân Tông lại cho làm hai ngọn tháp chỏm trắng ở chùa Diên Hựu, ba ngọn tháp chỏm đá ở chùa Lãm Sơn. Bấy giờ vua sửa lại chùa Diên Hựu đẹp hơn, đào hồ Liên Hoa Đài gọi là hồ Linh Chiêu. Ngoài hồ có hành lang chạm vẽ chạy chung quanh, ngoài hành lang lại đào hổ gọi là hổ Bích Trì, đcu bắc cầu vồng để đi qua. Trước sân chùa xây bảo tháp

Đại Việt sử lược cho biết thêm: Mùa thu, tháng 9, năm Long Phù thứ 5 (1105) vua cho làm hai cái tháp bằng sứ trang, loại nhỏ, đặt ở chùa Diên Hựu, lại làm thêm ba cái tháp bằng đá đặt ở Lam Sơn…

Minh văn trên bia tháp Sùng Thiện Diên Linh của chùa Long Đọi (Nam Hà) dựng năm Thiên Phù Duệ Vũ thứ 2 (1121) đã cung cấp một hình ảnh chân thực nhất về ngôi chùa Một cột thời Lý như sau: “Lòng sùng kính đức Phật, dốc lòng mộ đạo nhân quả, hướng về vườn Tây Cấm nối danh xây ngôi chùa sáng Diên Hựu. Theo dấu vết chế độ cũ, cùng với ý mưu mới của nhà vua”. ‘ Đào ao thơm Linh Chiểu, giữa ao mọc lên một cột đá, trên cột đá có hoa sen nghìn cánh xòe ra. Trên hoa dựng một ngôi đền đỏ sẫm, trong đền đặt pho tượng sắc vàng. Ngoài ao có hành lang vẽ bao bọc. Ngoài hành lang lại đào ao Bích Trì, bắc cầu cong để đi lại. Phía sân cầu đằng trước, hai bên tả hữu xây bảo tháp Lưu Ly”.

Đại Việt sử ký toàn thư lại cho biết thêm về quá trình sửa chữa sau này của chùa Diên Hựu là vào năm “Kỷ Dậu, [Thiên ứng Chính Bình] năm thứ 18 (1249), (Tông Thuần Hựu năm thứ 9), mùa xuân, tháng Giêng, trùng tu chùa Diên Hựu, xuống chiếu vẫn làm ở nền cũ”. Như vậy, cụm kiến trúc chùa Một Cột thời Lý đã được xây dựng lại dưới thời Trần vào năm Thiên ứng Chính Bình thứ 18 (1249). về sau, các hành lang và cầu cong không còn, chỉ lưu lại ngôi chùa trên cột đá, được các đời sau thường xuyên tu sửa:

Năm 1838, tổng đốc Hà Ninh Đặng Văn Hòa tổ chức quyên góp thập phương sửa chữa điện đường, hành lang tả hữu, gác chuông và tam quan.

Năm Thiệu Trị thứ 7 (1847) quan Vinh lộc đại phu Hiệp biên Đại học sĩ, giữ chức Hữu Đô ngự sử đứng ra hưng cổng tu sửa. Nội dung bia cho biết: “Ngôi chùa là nơi chung đúc linh thiêng của nước Nam, là phong cảnh xinh đẹp của Tây thành…”.

ý nghĩa chùa một cột

Năm 1852, Bố chánh Tôn Thất Hàm hưng công trùng tu, làm sàn gỗ hình bát giác để đỡ tòa sen và trang trí thêm nhiều hình chạm trổ để tăng thêm vẻ tráng lệ cho ngôi chùa.

Chuông đồng “Nhất Trụ tự chung” (chuông chùa Một Cột) đúc năm Thành Thái thứ 4 (1892), bài minh trên chuông cho biết: Triều vua Tự Đức năm Quý Sửu (1853) đã đúc một quả chuông, đến năm 1891 chuông mất, nay 15 người công đức lại quả chuông này.

Ngày 11 tháng 9 năm 1954, trước khi phải rút khỏi Hà Nội, thực dân Pháp đã cho tay sai đặt mìn phá hủy, chùa tan nát, chỉ còn lại cột đá với mấy cái xà gỗ. Sau khi tiếp quản Hà Nội, Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã cho dựng lại chùa theo kiểu dáng từ thời Nguyễn và đến tháng 4 năm 1955 thì hoàn thành.

Năm 1958, tại khu vực chùa Một Cột, lại được trồng cây bồ đề của đức Phật do Chính phủ Ấn Độ tặng Chủ tịch Hồ Chí Minh khi Người sang thăm nước bạn. Bác đã mang về nước và cho trồng cây tại khuôn viên của chùa để ghi nhận tình cảm của đất nước và nhân dân Ấn Độ, quê hương của Phật giáo đối với Việt Nam. Năm 1996, cơn bão số 4 đổ vào thành phố Hà Nội đã làm bật gốc, đổ cây bồ đề lịch sử này. Song, được sự quan tâm kịp thời của ủy ban nhân dân quận Ba Đình, cây Bồ đề do Bác trồng đã được cứu chữa kịp thời. Hiện nay, cây vẫn xanh tốt tỏa bóng um tùm bên ngôi chùa cổ kính. Được sự quan tâm của Bộ Văn hóa Thông tin, năm 1996 trùng tu lớn khu vực chùa chính và nhà tổ. Kiến trúc của chùa từ đó được giữ nguyên vẹn cho đến hiện nay.

2. Nét kiến trúc độc đáo của chùa Một Cột

Thăng Long cổ tích khảo đã từng chép về kiến trúc của chùa như sau: “Chùa Một Cột ở phía Tây kinh thành. Tiền đường ba gian, hậu điện một gian. Sau chùa có cái ao rộng khoảng 1 sào. Nước ao sâu vài ba thước. Trong ao xây trụ đá cao hơn 10 trượng, quay hai mặt trên đó dựng một gác dài rộng khoảng sáu bảy thước. Trong thờ Phật, phía ngoài làm cầu gỗ. Dùng thang gỗ để lên gác. Thang có chín bậc. Nay chánh quản viên tước Trung thị Hầu trùng tu chùa, làm bi kí vào tháng 12 năm Đinh Mão:

Sừng sững chùa xưa chốn thành Tây,

Đãi nắng dầm sương trải bấy nay.

cảnh sắc thiền lâm hơn gấm vóc,

Lung linh lầu gác tựa mây bay.

Sư già bì bõm trên cầu nước,

Khách du mải ngắm gác thanh này.

Bia mới khắc ghi ngàn sự việc,

Chuyện cũ bao đời có ai hay?

Chùa Một Cột còn gọi là Tòa đài sen, vì hình dáng của chùa như một bông sen nhô lên trên mặt nước. Chùa hình vuông làm bằng gỗ, lợp ngói ta, mỗi cạnh 3m, trên một trụ đá có đường kính 1,2m, đó chính là nét độc đáo của ngôi chùa này. Trụ đá gồm hai khối gắn liền với nhau, tưởng như chỉ là một khối. Trụ đá cao 4m (chưa kể phần chìm dưới đất). Phần trên thân trụ mang tám cánh gỗ, trông tựa bông sen nở, lại có chức năng ăn liền với mộng tám cột của chùa (bốn cột lớn và bốn cột phụ). Các cột này đỡ lấy các đòn ngang của mái chùa. Nóc chùa có mặt nguyệt bốc lửa, đầu rồng chầu về mặt nguyệt. Trong chùa, tượng đức Phật Quan Âm tọa lạc, sơn màu vàng, tượng ngồi trên một bông sen bằng gỗ sơn son thiếp vàng, ở vị trí cao nhất. Phía trên tượng Phật là hoành phi Liên hoa đài (đài hoa sen). Chùa có bốn mái, bốn đầu đao cong được đắp hình đầu rồng.

Từ mặt sân chùa lên tới sàn chùa để tụng kinh lễ bái, phải bước lên mười ba bậc, bậc rộng 1,4m, hai bên có thành tường xây gạch. Điểm đặc biệt là ở mặt tường bên trái có gắn bia đá rộng 30cm, dài 40cm. Đó là bia được viết vào đời cảnh Trị năm thứ 3 đời vua Lê Huyền Tông (1665) do Tỳ khưu Lê Tất Đạt ghi.

Chùa Một Cột được xây ở giữa hồ nước thả sen, mỗi cạnh hồ 20m, có tường thấp bao xung quanh. Khách trong nước và ngoài nước tới vãn cảnh, ngắm sen nở trong hổ tương phản với chùa cũng là một bông sen lớn, toát lên sự cao quý của đức Phật Quan Âm, đã không ngớt lời tán tụng. Trí tưởng tượng của nghệ nhân về kiến trúc đã vượt ra ngoài suy nghĩ của thế giới trần tục. Xung quanh chùa có nhiều cây lâu năm tỏa bóng mát, cùng với cảnh chùa làm tăng thêm vẻ tĩnh mịch, hư vô, huyền ảo.

3. Ý nghĩa Chùa Một Cột

Nét độc đáo trong kiến trúc chùa Một Cột chính là ngôi chùa được xây hình tòa sen. Trong Phật giáo, hoa sen biểu trưng cho những giá trị đạo đức, sự thuần khiết và thánh thiện, sự duy trì và phát triển Phật pháp, trí tuệ dẫn đến Niết Bàn. Trên thế giới ít có loài hoa nào có nhiều phẩm chất cao quý như hoa sen. Bởi vậy mà nhà Phật ví nó như những đức tính của người tu hành. Trong kiến trúc Phật giáo, hình tượng hoa sen được lồng vào cấu trúc nhà, một bộ phận kiến trúc hoặc cả tổng thể công trình với ý nghĩa về sự giải thoát, giác ngộ Phật pháp. Những công trình kiến trúc tiêu biểu với hình tượng hoa sen thường xuất hiện trong những giai đoạn hưng thịnh của Phật giáo và chùa Một Cột chính là một biểu trưng cho sự hưng thịnh của Phật giáo thời Lý. Có thể nói, hoa sen là một hình tượng dung dị và đời thường. Song cũng chính nét đẹp giản đơn ấy đã góp phần làm tăng thêm giá trị nghệ thuật cho các công trình kiến trúc Phật giáo của Việt Nam, mà đặc biệt là chùa Một Cột.

4. Sinh hoạt tín ngưỡng của triều đình nhà Lý gắn với chùa Một Cột

Cũng như nhiều ngôi chùa cổ khác ở đồng bằng Bắc Bộ, chùa Một Cột được dựng lên không ngoài mục đích làm nơi tôn thờ Phật, về tôn giáo,đạo Phật tuy đã vào Việt Nam từ thời Bắc thuộc nhưng chưa được truyền bá có hệ thống và sâu rộng trong khắp nước. Tới thời Lý, đạo Phật mới thực sự phát triển ở Việt Nam và trở thành quốc giáo.

Các vị vua đầu triều đại Lý đều rất tôn sùng đạo Phật. Họ tìm thấy triết lí ‘Tâm tức Phật “, lòng từ bi, dung hợp, không cổ” chấp của đạo Phật để làm điểm tựa cho tư tưởng hòa hợp dân tộc, thống nhất quốc gia, tự cường dân tộc, lấy lẽ sinh thành dưỡng dục để răn mình, để dạy dân yên ổn làm ăn, thắng số mệnh, xây dựng đất nước phồn vinh, đem lại hạnh phúc cho quảng đại nhân dân theo ước nguyện của Đức Phật.

kiến trúc chùa một cột

Từ khi khởi dựng chùa, hoàng thân quốc thích trong triều đình nhà Lý thường tới vãn cảnh chùa. Hằng tháng, cứ ngày rằm, mồng một, nhà vua cùng hoàng gia và cận thần tới chùa lễ Phật. Mỗi năm, đến ngày mồng 8 tháng 4 âm lịch, nhà vua làm lễ tắm Phật. Lễ tắm Phật ở chùa Một Cột trở thành một ngày hội lớn ở kinh thành. Sau lễ tắm Phật ở trong chùa, nhà vua ra ngự ở môt đài cao dựng trước chùa, làm lễ phóng sinh. Nhà vua đứng cầm một con chim thả cho bay đi, nhân dân dự hội có nhiều người tung chim bay theo. Hàng tháng cứ ngày rằm, mồng một và mùa hạ, ngày mồng 8 tháng 4, xa giá ngự đến, đặt lễ cầu phúc, bày nghi thức tắm Phật, hàng năm lấy làm lệ thường

Văn bia tháp Sùng Thiện Diên Linh (chùa Đọi, Nam Hà) còn cho biết thêm: ‘”Hằng tháng, vào sớm mùng một (ngày sóc), hằng năm vào dịp du xuân, nhà vua ngồi xe ngọc, đến chùa mở tiệc chay, làm lễ dâng hương hoa cầu cho ngôi báu dài lâu, bày chậu thau làm lễ tắm tượng Phật. Trang sức pho tượng tinh tế, biểu lộ tướng mạo của năm loại chúng sinh. Hoặc xắn tay áo tiên lui cử động dung nhan. Họp đội của Thiên vương bốn phương, đều giơ đồ kim khí bồi hồi dâng điệu múa. Chăm chỉ chang đám biêng lười, lúc nào cũng cung kính. Cho nên sức huyền bí tạo hóa cảm thống mà đều phù trợ. Như thế là nhà vua đã dựng cây phướn nhà Phật mà cầu phúc thọ vậy”.

Trải qua những bước Thăng trầm cùng lịch sử chùa Một Cột cho đến nay vẫn là một trong những di tích nổi tiếng ở thủ đô Hà Nội, với một ngôi Phật đài dựng trên cột vươn lên khỏi mặt nước là kiến trúc độc đáo, gợi hình tượng về một bông sen, mang giá trị kiến trúc nghệ thuật cao. Chùa được mở cửa từ 6h sáng- 18h tối tất cả các ngày trong tuần, nếu quý khách đang có mong muốn thăm quan chùa hãy đến vào khung giờ này nhé.  Chùa Một Cột đã đi vào lịch sử như một niềm tự hào của văn hóa dân tộc, một minh chứng cho sự tôn sùng đạo Phật từ triều đại nhà Lý cách nay gần 1000 năm. Ca ngợi về ngôi chùa cổ, Thiền sư Huyền Quang

Xem tiếp: Tìm Hiểu Chùa Vĩnh Tràng-Di Tích Lịch Sử Văn Hóa Tỉnh Tiền Giang

Đánh giá bài viết

Đọc Thật Chậm

đền bảo hà lào cai

Đền Bảo Hà – Nơi thờ phụng người hùng của dân tộc

Đền Bảo Hà không phải là nơi thờ phụng những vị thần linh Phật hay …

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *