Home / Di tích / Kỳ Quan / Lịch sử Vạn lý trường thành Trung Quốc

Lịch sử Vạn lý trường thành Trung Quốc

Nếu những đoạn khác [của trường thành] cũng tương tự với những đoạn tôi vừa nhìn thấy, chắc chắn đây là công trình kỳ diệu nhất của bàn tay nhân loại, vì tôi hình dung, nếu việc phác họa tất cả các công trình nề của toàn bộ pháo đài và công sự trên toàn thế giới ngoài số đã kể, sẽ là điều vô cùng thiếu sót nếu không kể đến Vạn lý trường thành.

1. Vạn lý trường thành ở đâu

Truyền thuyết về “tường thành dài một ngàn dặm”, cũng như người Trung Quốc thường gọi Vạn lý trường thành, nhiều vô số kể. Người ta đồn rằng (nhưng không đúng) đây là công trình nhân tạo duy nhất có thể nhìn thấy từ mặt trăng, chỉ nhằm gợi lên ý tưởng về Trung Quốc như một vùng đất huyền bí, rộng bao la và khép kín. về quy mô không hề có đối thủ trong lịch sử thế giới, trải dài khoảng 2700 km (1678 dặm) theo một đường thẳng từ Shanhaiguan ở bờ biển phía Đông thuộc Hồ Bắc đến Jiayuguan thuộc Gansu ở phía Tây, nhưng chiều dài thực sự, kể cả các đoạn thành gấp đôi, gấp ba và thậm chí gấp bốn cùng các đường nhánh ở các đèo và các điểm chiến lược khác ít nhất cũng nhân chiều dài của trường thành lên gấp đôi. Nếu tính cả những đoạn lúc đầu của trường thành, chiều dài tổng cộng gần 10.000 km (6214 dặm), lớn hơn chu vi trái đất 20%. Hiện còn khoảng 20.000 tháp canh trên trường thành và 10.000 tháp canh hay truyền tin riêng biệt khác, số gạch đá của trường thành có thể xây dựng mười bức tường dày 1 m (3,25 ft), cao 5m (16ft) vòng quanh trái đất.

vạn lý trường thành trung quốc
Vạn Lý Trường Thành ngày nay

Tuy nhiên, trong thực tế, Vạn lý trường thành là một từ chung để gọi nhiều bức tường dài, xây dựng ở nhiều giai đoạn khác nhau trong lịch sử Trung Quốc. Từ đầu, trường thành không khác gì hơn là một công trình phòng thủ: đánh dấu ranh giới của nền văn minh. Đặc điểm Trung Hoa ở trường thành cũng mang đặc điểm thành phố, trường thành đánh dấu một đơn vị hành chính, tách biệt một nước Trung Hoa nông nghiệp, có tổ chức với tình trạng man rợ, vô tổ chức của các bộ tộc du mục thảo nguyên. Vì thế, muốn vượt qua “phạm vi trường thành” là phải vào thế giới văn minh mọi người đều biết.

2. Lịch sử Vạn lý trường thành

Khi vị Hoàng đế đầu tiên thống nhất Trung Hoa năm 221 tr. CN, ông ra lệnh cho viên tướng Meng Jian phải nối liền và mở rộng một loạt các đoạn thành trước kia, do các nhà nước mà ông xâm chiếm xây dựng để lập thành một tường chắn liên tục chống lại các bộ tộc cướp phá ở vùng biên giới phía Bắc và Tây Bắc. Sự gian khổ và hy sinh trong việc xây dựng Vạn lý trường thành đầu tiên này được đề cập đến rất nhiều trong thơ ca và truyền thuyết. Hơn 300.000 người bị bắt lính kể cả binh lính, nông dân, quan chức bị thất sủng, tù binh và học giả bất tuân mệnh lệnh “phần thư khanh nho” (đốt sách giết kẻ sĩ). Làm việc ở những vùng núi non hay sa mạc, trong cái nóng và lạnh cực độ, không đủ lương thực hay chỗ ở, người ta nói cứ xây dựng mỗi mét thành là có một người phải bỏ mạng.

Từ lâu, trường thành phản ánh sức mạnh của Trung Hoa và thái độ của nước này đối với các bộ tộc du mục láng giềng. Trong thời điểm cùng tồn tại hòa bình, người ta xao lãng và để cho trường thành hư nát, lúc ấy các láng giềng của Trung Hoa hùng mạnh và thù địch, nên mới xây dựng lại trường thành như một công trình phòng thủ đối phó với các dân tộc có tài cưỡi ngựa điêu luyện ở vùng thảo nguyên. Nhà Hán (221 tr. CN – 220 sau CN), mở rộng trường thành đến mức dài nhất xưa nay, xây dựng một thành vòng về phía Tây hướng đến Lop Nor để bảo vệ hành lang Hexi ở Gansu, lối vào Con đường tơ lụa băng qua Trung Á. Nhiều tường thành sau này do các dân tộc không phải Trung Hoa xây dựng, những người đã chiếm đóng miền Bắc Trung Hoa, muốn tự bảo vệ mình trước các đợt xâm lược mới của kẻ xâm lăng.

3. Vạn lý trường thành thời nhà Minh

Hầu hết trường thành chúng ta nhìn thấy ngày nay đều được xây dựng từ thời nhà Minh (1368-1644 sau CN). uốn lượn dọc theo đỉnh núi, chiều rộng chân thành 6m (20 ft), cao khoảng 6 đến 8,7m (20 và 28,5ft). Đường đi dọc theo các thành lũy, lót bằng bốn lớp gạch, tường có lỗ châu mai xây cao để chống sườn ở cạnh ngoài, trong khi bờ công sự xây ở cạnh trong, chiều rộng đủ cho năm ngựa chạy song song.

vạn lý trường thành ở đâu

Ở các đèo và trong thung lũng, xây thêm tường thành phụ để làm công trình phòng thủ bổ sung. Tháp canh, đặt cách khoảng 70m (230 ft), được xây bậc thang bằng đá đi lên, có nhiều đường dốc đều đặn dẫn lên tường thành dùng cho ngựa. Xây dựng khoảng 10.000 tháp truyền tin khác để việc thông tin dọc trường thành mau lẹ: thông tin trong ban ngày sử dụng tín hiệu khói, ban đêm dùng lửa. Trong thế kỷ 7, yêu cầu tiêu chuẩn là hiệu lệnh phải truyền đi 1064km (661 dặm) trong 24 giờ, số lượng địch quân tấn công nhiều hay ít biểu thị bằng độ lớn hay nhỏ của tín hiệu báo.

4. Xây dựng vạn lý trường thành

Trường thành ban đầu xây dựng bằng vật liệu địa phương với kỹ thuật đắp nện áp dụng trong tất cả công trình xây dựng ở Trung Hoa. Hai mặt tường dựng ván, sau đó đổ nhiều lớp đất vào khu vực đã bỏ ván rồi đầm chặt. Ván trung bình dài 4m (13 ft), bao được khoảng 80 m3 (2825 ft khôi) đất tạo thành các lớp dày 8-10 cm (3-4 inch), đã phát hiện nhiều lớp này nhưng chỉ dày từ 3 đến 20cm (1,2-8 inch). Đôi lúc các lớp sậy mỏng độn vào giữa các lớp đất để làm lớp đất độn mau khô.

Trong sa mạc Gobi và các vùng thảo nguyên, trường thành xây dựng từ các loại thực vật ở địa phương, với các lớp lá cọ đỏ hay lau sậy dày khoảng 15 cm (6 inch) đặt rải rác với nhiều lớp đá cuội và đất tại chỗ. Ở vùng châu thổ Tarim Basin, tháp canh xây bằng các loại cây bụi với thân cây dương đặt xen kẽ với lớp đất sét nện. Đặc điểm chính của tất cả những công trình này là mỗi lớp đều đầm chặt trước khi đổ lớp kế tiếp.

Độ bền vững của những công trình như thế được chứng minh qua sự tồn tại của các đoạn tường thành có niên đại từ năm 656 tr. CN. Các đoạn thành của nhà Tần xây vào thế kỷ 3 tr. CN vẫn còn cao 3 m (10 ft), chân thành rộng 4,2 m (13,7 ft) đỉnh thành rộng 2,5 m (8,2 ft), ở Đông Bắc Trung Quốc gồm nhiều lớp đất sét vàng trộn với một lượng nhỏ đá cuội rồi dùng đầm để đầm chặt. Trường thành thời nhà Hán cao đến 4 m (13 ft) vẫn còn tồn tại ở Gansu, kể cả một pháo đài lớn ở Yumenguan, Dunhuang. Ở đây, đất nện và các lớp đá cuội nhỏ đặt rải rác cứ cách khoảng 15 cm (5,9 inch) với các lớp lau sậy, đặt chéo nhau, hiện vẫn còn tốt. Các tường thành ờ pháo đài nối xen kẽ nhau ở các góc, phần đỉnh của các cổng có chân cổng hình vuông được tạo dáng thon để tránh tường bị đổ. Hơn 100 tháp truyền tin xây bằng đất nện hay các viên gạch phơi nắng – gạch sống dẹt, bản rộng, kích thước 38 X 25 X 9 cm (15 X 9.8 X 3,5 inch) – vẫn còn trong vùng này. Xây gần sát trường thành ở cả hai mặt, cách khoảng nhau 1.6-2,5 km (1-1,6 dặm), các tháp canh phần chân có cạnh vuông 17 m (55ft), cao 25 m (82 ft), tạo dáng thuôn dễ nhận thấy, các bức tường ở tháp vẫn còn dấu vết sử dụng giàn giáo.

vạn lý trường thành ai xây

Những người xây dựng trường thành sau cùng, nhà Minh đã áp dụng nhiều phương pháp mới. Trong khi một nửa phía Tây của Vạn lý trường thành xây theo kiểu truyền thống, thì một nửa phía Đông bảo vệ kinh thành Bắc Kinh tránh khỏi các cuộc xâm lăng của Mông cổ và Mãn Châu, được xây bằng đá. gạch bên trên đất nện hay lớp độn đá cuội. Pháo đài như pháo đài đ Shanhaiguan. nơi đây trương thành giáp biến, đều giống như các thành phố nhỏ có nhiều boong-ke đẻ trú ẩn trong thời chiến, một chiếc cầu kéo, tâm móng để huấn luyện binh sĩ và các kho tàng quân sự cũng như tương bao phía ngoài để trữ lúa thóc và gia súc.

Những công trình xây dựng như thế đều rất tốn kém về chi phí và thời gian. Trong khi một người sử dụng xẻng gỗ, thúng tre lượng lao động phải bao gồm thợ thủ công có tay nghề trong việc xây dựng công trình bằng gạch, gỗ hay đá. Đá phải được đục đẽo bằng búa, đục thép hay sắt, vận chuyển từ các khu mỏ thường nằm ở vách đá thẳng đứng trước khi xây. Lòng sông và mương rãnh được lót nền để có nơi làm việc và các phiến đá, dài đến 2 m (6,5 ft) cân nặng đến cả tấn, kéo lên bằng puli hay tời quay. Nơi nào thuận tiện, đắp đường dốc bằng đất để dựng thẳng các tảng đá ở các cao trình phía trên của trường thành, nhưng ở những nơi địa hình quá dốc đứng, thợ thuyền phải dùng đến puli và tời kéo dưới hình dạng đòn bẩy gỗ, hay hàng trăm người cùng kéo một tảng đá. Hệ thống tương tự được áp dụng cho các phiến đá granite to lớn, dài 50m (164 ft), rộng 10 m (33 ft), tạo thành phần chân trường thành ở Shanhaiguan nơi giáp biển.

Lớp mặt xây gạch dày đến bảy, tám lớp. Gạch được nung trong các lò nung vôi nhỏ nằm dọc theo địa điểm xây dựng, một lò vôi còn nguyên trạng khai quật vào năm 1991, sản xuất gạch 41 X 20 X 10 cm (16 X 8×4 in), ước tính cứ mỗi mét trường thành cần đến 22 lò nung như thế. Ớ đây sự kiểm tra chất lượng rất nghiêm ngặt: tư liệu thành văn từ thế kỷ 5 ghi rằng nếu người giám sát dùng dùi đâm vào viên gạch sâu đến 2,5 cm (1 inch), thì người thợ sẽ bị giết chết và chôn trong trường thành. Chữ khắc trên một tảng đá thời nhà Minh ở Jiayuguan cho biết niên đại (năm 1540) và tên của người giám sát nhóm thợ cho thấy công việc xây dựng lại ở đây, tăng gấp đôi chiều cao của trường thành lên 9 m (29.5 ft) với nhiều lớp gạch mới xây phía trên công trình đất nền ban đầu phải mất 100 năm mới hoàn tất.

Đánh giá bài viết

Đọc Thật Chậm

Giải mã bí ẩn tảng đá Stonehenge chôn giấu hàng trăm năm

Giải mã bí ẩn tảng đá Stonehenge chôn giấu hàng trăm năm

Kể rằng người ta mang những tảng đá này từ Ire­land đến, nhưng chở bằng …

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *