Home / Văn hóa & Tôn Giáo / Gia Phả / Ý nghĩa của Tông Phả ít người biết tới

Ý nghĩa của Tông Phả ít người biết tới

Muốn tìm hiểu ý nghĩa của danh từ tông phả, trước tiên phải tìm hiểu chữ tông. Chữ tông có hai nghĩa hẹp và rộng, theo nghĩa rộng, chữ tông chỉ nhà thờ chung của một họ, từ là coi ông tổ mang họ nào đó làm đơn vị (tức là ông tổ của họ nào đó). Nói ngược lại, coi ông tô mang họ là đơn vị để xây dựng nhà thờ, tên từ là đại tông.

Vì vậy giữa văn nhân và người cùng họ thì gọi tông phái, khi nói chuyện với người bề trên cùng dòng họ thì gọi là con cháu đời sau,… Theo nghĩa hẹp, là chỉ ông tổ chi dưới của dòng họ làm đơn vị (tức ông tổ di dời của nhà thờ), coi đây là đơn vị xây dựng nhà thờ, tên từ là tiểu tông (đại tông, tiểu tông trong đại tông, tiểu tông và chế độ tông pháp ở đây khác nhau), thường coi từ đường (tiểu tông) là đơn vị tu sửa gia phả là tông phả.

TỘC PHẢ

Tộc tức là gia tộc, gọi chung gia phả do các thành viên trong gia tộc viết là tộc phả. Thực ra tổ tiên của mỗi từ đường cũng chỉ là gia tộc, tình hình thông thường là, gọi phả của từ đường đã xây là tông phả, phả của từ đường chưa xây là gia tộc phả, vì vẫn chưa có nhà thờ tổ, nền chỉ là tộc mà thôi. Đây không phải là định nghĩa cố định, hoặc có gia tộc chưa lập nhà thờ tổ, nên cũng có gia phả gọi là tông phả, vì nó lấy nghĩa đại tông.

THẾ PHẢ

Thế ở đây mang nghĩa lưu truyền qua các thời đại, ý nghĩa tương đồng với thời đại, gia thế. Nói chung, phả chuyên viết về thế hệ trên, còn người mới sinh chưa nhập gia phả, gọi là thế phả. Cũng có phả viết về thế hệ trên và tăng thêm nhân khẩu mới gọi là thế phả.

THÔNG PHẲ

Vì phả không thuộc một dòng họ, có phả khác họ hoặc khác tộc, nên gọi là thông phả. Thông thường chỉ họ này và họ kia tuy khác nhau nhưng cùng nguồn gốc, nếu không thì bất thông. Hoặc phả có tông nhưng khác phái, cũng gọi là thông phả.

ĐỌC THẬT CHẬM: Cách lập gia phả & Nội dung cần có trong gia phả

tông phả

THÕNG PHẢ

Thống nhất các loại gia phả, bao gồm gia phả của 1 khu vực, hoặc của cả một dòng họ lớn.

LIÊN HOÀN PHẢ

Nội dung của nó có hai loại, một là khi viết phả thì mỗi bản in thành hai hoặc ba bộ, một bản gửi cho các phòng để lưu, một bản để ở từ đường làm gốc, bản lưu tại từ đường có nội dung nối tiếp nhau, nên gọi là liên hoàn phả.

TỔNG PHẢ

Trên thực tế chính là liên hoàn phả, vì nội dung của nó là sự tổng hoà của một từ, nên gọi là tổng phả, gọi tắt là liên hoàn phả.

PHÒNG PHẢ

Một tổ tông chia ra rất nhiều phòng, phả chỉ dành cho con cháu thuộc từng phòng gọi là phòng phả. Đặc điểm của nó là chỉ ghi cho con cháu.

CHI PHẢ

Dưới 1 phòng chia ra rất nhiều chi, phả chỉ ghi cho con cháu dưới chi gọi là chi phả.

TỒNG PHÁP

Xã hội phong kiến coi gia tộc là trung tâm, dựa vào sự xa gần của quan hệ huyết thống để phân biệt chế độ đẳng cấp thân sơ của chi trương và chi thứ. Bắt đầu nảy sinh từ Thời An Thương, định hình Thời Chu. Trong Thời Tây Chu, Chu Vương tự xưng là Thiên tử, vương vị do con trưởng kế thừa, xưng là “đại tông” của thiên hạ, là gia trưởng cao nhất của lớp quý tộc cùng họ, về chính trị là người đứng đầu trong cả nước. Còn những người còn lại phong làm chư hầu, đối với Thiên tử là “tiểu tông”, trong nước là đại tông, chức vị của họ cũng do con trưởng kế thừa, họ lấy tên làm họ. Chư tử của chư hầu và con thứ phong làm khanh thần, đối với các chư hầu thì lấy chức vị, tên ấp, vai vế,… làm họ. Từ khanh thần đén sỹ tộc, quan hệ đại tông và tiểu tông cũng giống nhau. Như vậy đã là một cơ cấu nhà nước, lại là tộc đại tông bắt đầu từ quan hệ huyết thống, chế độ tông pháp vẫn trở thành công cụ đắc lực để củng cố sự thống trị cha truyền con nối của tầng lớp quý tộc. Đến cuối Thời Tây Chu, chế độ tông pháp theo ý nghĩa ban đầu dần bị hủy hoại. Đời sau, giai cấp địa chủ đã kế thừa và cải thiện chế độ tông pháp của Thời Chu, thực ra việc này vượt ra khỏi phạm vi của đại thần, sỹ tộc. Vì thế, đến cuối Thời Thanh, tông pháp là chế độ cơ bản gắn bó xã hội phong kiến, mà từ Thiên tử đến con thứ đều phải tuân theo.

TÔNG TỘC

Cũng gọi là “gia tộc”, “tộc”. Chỉ tập đoàn thân thuộc đơn hệ phụ hệ, tức là coi nam giới vị thành niên là trung tâm (gọi “tông tử” hoặc “tộc trưởng”), tiếp tục duy trì theo nguyên tắc kế tự cha con, đây là tuyến chính của tông tộc. Cạnh tuyến chính có một vài tuyến chi, thứ tự sắp xếp tuyến chi dựa vào độ xa gần của quan hệ huyết thống với tuyến chính đê quyết định. Trong tộc có gia đình, vì vậy tộc là thể kết hợp của gia đình. Người cha trong gia đình chịu sự hạn chế của tông tử của họ tộc. Tông tộc là kết cấu đơn hệ, huyết thống của nó được sắp xếp theo họ nam chứ không sắp xếp cả hai họ nam nữ. Tất cả nữ giới trong tông tộc đều là vật phụ thuộc của nam giới. Trong xã hội văn minh, phải đối mặt với cuộc đấu tranh sinh tồn khốc liệt giữa giới tự nhiên và xã hội, gia tộc chỉ có thể tồn tại với quy mô tương đối nhỏ, con cháu có khả năng độc lập sinh tồn, và dần thoát ly khôi phụ tộc để lập tông tộc khác.

TỔ TÔNG

Tôn xưng người có công đức trong các bậc tổ tiên,

GIA MIẾU

Gia tộc lập miếu cho tổ tiên. Trong miếu có thờ các bài vị, thường tổ chức tế lễ.

TỚNG PHỤ

  1. Vợ chính của tông tử.
  2. Vợ của khanh thần cùng họ.

TỔ TIÊN

Tức thuỷ tổ. Cũng chỉ tổ tiên trong các triều đại dưới thuỷ tổ. “Chu dịch tham đồng khế” viết: “Con kế nghiệp cha, cháu tiếp gót tổ tiên.”

THÂN THÍCH

  1. Thời Tiên Tần có thể chỉ người thân, như cha mẹ, vợ, chị dâu, anh em họ, cháu,…
  2. Chỉ người thân bên nội và bên ngoại.

TAM ĐẢNG

Chỉ phụ tộc, mẫu tộc, thê tộc.

GIA PHẢ

Cũng gọi là “tộc phả”, “thị phả”, “thế phả”, “tông phả”, “gia điệp”. Cuốn sách do thị tộc và sỹ tộc khanh thần đời sau ghi lại phả hệ của tông tộc hoặc gia tộc.

phác đồ gia phả

CỬU TỘC

Từ thời Hán, “Cửu tộc” có hai cách giải thích theo kinh học là văn cổ và văn hiện đại, mỗi loại có một bối cảnh xã hội và chính trị riêng, lần lượt đáp ứng nhu cầu của kẻ thống trị trên các phương diện khác nhau.

  1. Thuyết cổ văn: nhân vật tiêu biểu có Khổng An Quốc, Mã Dung và Trịnh Huyền. Họ cho rằng, cửu tộc chỉ giới hạn bởi phụ tông, bao gồm quan hệ thân thuộc trực hệ chín đời từ cao tổ đến huyền tôn. Thuyết cổ văn đã cấu thành nền tảng của lý luận tông pháp. Sau thời Đường, Tống, thuyết cổ văn cửu tộc chính thức được thừa nhận trong hệ thống pháp luật của đất nước, trong đó luật pháp hai thời Minh, Thanh quy định, cửu tộc chỉ phụ tông.
  2. Thuyết kim văn: nhân vật tiêu biểu là Hứa Thận,… Họ cho rằng, cửu tộc bao gồm phụ tộc tứ, mẫu tộc tam, thê tộc nhị. Thuyết kim văn đã đáp ứng nhu cầu của kẻ thống trị thời phong kiến, lợi dụng quan hệ thông gia huyết thống để thực hiện khống chế một cách tối đa giai cấp và xã hội. Kẻ thống trị phong kiến khi ban tặng, trừng phạt, tàn sát thường lợi dụng thuyết kim văn của cửu tộc.

THUỶ TỔ

Chỉ tổ tiên mang họ, cũng chỉ tổ tiên xa xưa nhất có huyết thống.

THÂN THUỘC

Người có quan hệ với người trong họ và người trong họ kết thân với người bên ngoài đều là thân thuộc. Cha mẹ tằng cao tổ và cha mẹ tôn là thân thuộc.

GIA TRUỒNG

Con trưởng trong gia đình. Trong xã hội tông pháp, gia trưởng chi phối tất cả trong gia đình, nắm giữ tài sản, quyết định việc hôn nhân của con cái,… quyền lực đều thuộc gia trưởng. Bộ luật phong kiến bảo vệ quyền lực của gia trưởng, gia trưởng có quyền sinh sát con cái, thiếp, nô bộc.

CHI TỔ

Chế độ tông pháp gọi con trai dưới con thứ của vợ bé và con trai của thiếp là “chi tử”.

TỘC TRƯỞNG

Người nắm giữ mọi công việc trong tông tộc. Đời sau thường do con trưởng hoặc cháu trưởng của trưởng ngành nắm giữ. Tộc trưởng có quyền trừng trị và sinh sát người vi phạm tộc quy hoặc làm trái với đạo đức phong kiến.

GIA PHÁP

  1. Phép trị gia của gia trưởng phong kiến. Thành viên trong gia đình và nô bộc nếu vi phạm, gia trưởng sẽ trừng trị theo pháp luật.
  2. Gia trưởng phong kiến trừng phạt về thể xác đối với con cái và nô bộc.

TAM TỘC

  1. Chỉ cha, con, cháu.
  2. Chỉ phụ tộc, mẫu tộc, thê tộc.

HIỆU

Hoàng đế Thời cổ đại và các bậc quan sau khi chết, người thống trị sẽ căn cứ theo nhu cầu chính trị của họ, dựa theo sự tích hồi còn sống của người chết mà ban danh hiệu cho họ. Thụy hiệu của hoàng đế do quan bộ lễ quyết định, thụy hiệu của đại thần do triều đình quyết định.

TÊN TỰ

Biệt danh sau Thời trưởng thành của con người. Tên và Tên tự thường có sự liên quan về ý nghĩa, Tên tự thường là lời giải thích và bổ sung của “tên”, trong bảng chữ của “tên”, nó cũng được gọi là “tên chữ”. Như Tên tự của Gia Cát Lượng là Khổng Minh, Minh, Lượng là từ đồng nghĩa. Tên tự của Khổng Lý con trai Khổng Khâu là Tử Ngư, Lý (cá chép) là một loại cá.

THỤY HIỆU

Thời xưa, sau khi vua và quan đại thần chết, người thống trị sẽ căn cứ theo nhu cầu chính trị và sự tích hồi còn sống của người chết, mà ban danh hiệu cho họ. Thụy hiệu của vua do quan bộ lễ quyết định, thụy hiệu của đại thần do triều đình quyết định.

TÔN HIỆU

Danh hiệu tôn sùng vua và hoàng hậu. Tôn hiệu của hoàng đế là Thái thượng hoàng, của hoàng hậu là Hoàng thái hậu, thái hoàng thái hậu. Sau thời Đường, trên hiệu của xưa và hoàng hậu có kèm theo danh hiệu.

XEM NGAY: Cùng tìm hiểu về một số Mẫu lập gia phả

Đánh giá bài viết

Đọc Thật Chậm

Nguồn gốc và sự hình thành của phả hệ học

“Phả hệ học” là ngành khoa học chuyên nghiên cứu gia phả, tộc phả. “Gia …

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *