Home / Di tích / Miếu / Miếu Vũ Hồn- Thờ đức thần tổ Vũ Hồn

Miếu Vũ Hồn- Thờ đức thần tổ Vũ Hồn

Vũ Hồn được xem là vị tổ của họ Vũ ở nước Việt Nam. Ông vốn là con trai của một người Trung Quốc tên là Vũ Công Huy, và mẹ là người Việt Nam tên là Nguyễn Thị Đức ở trang Mạn Nhuế (nay thuộc Nam Sách, Hải Dương) Vũ Hồn đỗ Tiến sĩ, nhà Đường cho làm quan ở nước Nam (năm 828). Sau đó ông ở lại, trở thành vị tổ họ Vũ ở làng Mộ Trạch, huyện Chí Linh (Hải Dương).

Tìm hiểu về Miếu Vũ Hồn

Dòng họ Vũ ngày càng đông đúc, gồm nhiều chi. Suốt mấy mươi thế kỷ, trải ra khắp miền Nam Bắc Việt Nam. Ở làng Mộ Trạch, con cháu và dân làng tôn ông làm Thành hoàng. Miếu thờ ông được gọi là miếu Vũ Hồn.

Miếu trước ở sau làng, bên cạnh đường xứ ông Hãy. Đến năm Vĩnh Thọ (1658-1662), đi về xứ Long Nhãn (Mắt rồng) ở phía Bắc, phía trong lũy tre làng. Miếu quay về hướng Đông. Trước miếu có hai ao nhỏ tròn, gọi là mắt rồng. Từ cửa miếu ra cánh đồng vòng về đình có con đường gọi là đường Nghinh. Năm vào đám rước thần từ miếu về đình, rồi lại rước thần từ đình về miếu bằng con đường ấy.

miếu vũ hồn thờ ai

Miếu Vũ Hồn thờ Thành hoàng là Vũ Hồn, người lập ra ấp Khả Mộ tức là Mộ Trạch ngày nay. Trong miếu Vũ Hồn có bàn thờ, tế khí bằng đồng, bằng sứ, bằng gỗ trạm trổ, sơn son thếp vàng. Xung quanh miếu trồng nhiều cây ăn quả như nhãn, mít, ổi, dứa, muỗm… Dân làng cử người ra trông nom, đèn hương hàng ngày, tiếp những người ra lễ bất cứ lúc nào, gọi là ông từ. Ông từ trông nom đèn hương cả ở đình.

Trong miếu có 3 bức hoành phi và 3 câu đối chữ Hán nói về sự tích và ca tụng sự linh thiêng của Thành hoàng.

  • Bức thứ nhất: Có ba chữ:

“Vạn thế trạch”

(ơn vạn đời)

  • Bức thứ hai: Có 4 chữ lớn viết kiểu chữ cổ:

“Thánh trạch vạn thế

(ơn Thánh vạn đời)

  • Bức thứ ba: Có 16 chữ khảm trai:

“ủ duy thần tổ, lại tự Bắc phương, Giao Châu đô hộ ngô ấp Thành hoàng”.

(Nguyên đức thần tổ từ phương Bắc đến, làm đô hộ Giao Châu, là Thành hoàng ấp ta).

Câu đối:

  • Cao hậu dữ tham, vọng quốc mặc phù, linh trạc trạc.
  • Thông minh như nhất, danh hương hiển tướng phúc nhương nhương.

(Tiến sĩ Vũ Phương để soạn)

(Cao đầy trời đất, bậc vua giúp nước, linh thiêng ngời ngợi.

Sáng suốt trước sau, danh hương hiển tướng, phúc dạt dào).

  • Trước Miếu Vũ Hồn, trên 2 đội đồng trụ, ghi 2 đôi câu đối nói năm dựng miếu và kiểu đất của miếu.
  1. Bạt nhi khởi chi, nhất vọng uyển thành Đỉnh tự

Thị bất vong giã, trùng doanh kế tự Thân niên

(Phá để xây lên, ngắm trong vườn thành chữ Đinh Thật không mất được, làm lại kể từ năm Thân).

  1. Long khai lưỡng nhăn lâm tiền ứng Tinh liệt tam thai tự ngoại triều.

(Rồng mở hai mắt, ngay đằng trước Sao ở ba gò, ngoài chiếu vào).

Cổng Miếu Vũ Hồn mới xây. Câu đối khắc trên đồng trụ, lấy câu đối của đình. Trên bờ ao mắt rồng có 3 gian nhà xây năm 1994 do ông Vũ Mạnh Hà cung tiến.

Trong tập thơ: “Mộ Trạch bát cảnh” của Hoàng giáp Thượng thư Vũ Cán có bài thơ vịnh cổ miếu:

Cảnh ngưỡng thần minh đất độ tư Tiện thần hương hỏa cổ tồng từ Dương dương phúc tịnh quang lâm nhật Trạc trạc anh linh giảm cách thì Hãn hoạn trừ tai, công thậm đại An dân lợi vật huệ bàng thi Ngô hương kỳ phúc hàm mông đức Thiên cổ danh ngôn doãn tại tư.

Dịch nghĩa:

Thờ thần cảnh miếu tỏ khôn lường Chẳng có khi nào ngớt khói hương Giáng lâm phúc thịnh, ngày thêm rõ Rực rỡ, anh linh, rất đỗi thiêng Ngăn hại, trừ tai, công to lớn Yên dân, lợi vật, ích vô cùng Làng ta cầu phúc thì được phúc Danh ngôn truyền tụng hẳn không nhầm.

Ở di tích Miếu Vũ Hồn, có một số bia và tượng đá thu thập từ các nhà tư và nhà thờ trong làng. Một bia nói về cụ Vũ Phong trạng vật, khai tổ nhà thờ “Lê Trạch đường”, chi 5 họ Vũ làng Mộ Trạch, chuyển từ nhà ông Vũ Đình Diễm ra miếu, lại còn tượng thờ thần cổng Bắc, trước đây thờ ở miếu nhỏ, nay phá để mở rộng đường nên rước tượng về miếu Thành hoàng.

  1. Bia cụ Vũ Phong nhà thờ Lê Trạch đường viết:

“Triều nhà Lê, tiên tổ ông làm cẩm y vệ đình úy ti, chỉ huy sứ. Vũ Quý Công, húy Phong, hiệu Tôn Trai phủ quân. Tiên tổ bà, được ấm phong phu nhân, người thôn Mạc, Nguyễn Quý Thị, húy Thỏ, hiệu Gia Thân phu nhân.

Năm Vĩnh Hựu thứ hai, tức năm Bính Thìn (1736) tiết đầu xuân, ngày tốt.

Tiên tổ ông giỗ ngày 11, tháng 11, mộ tại xứ Mã Miễu.

Tiên tổ bà giỗ ngày 17, tháng 12, từ chỉ rộng 4 thước, 4 tấc, tọa lạc tại Phủ Thủ xứ, đông 4 ngũ, 5 thước 5 tấc. Tây 4 ngũ, 4 thước, Nam 4 ngũ, 7 thước, Bắc 4 ngũ, 6 thước.

Cả họ cùng quy ước mỗi năm tháng giêng, ngày 17 sắm lễ có lợn, xôi, rượu, kim ngân mọi thứ”. Bia của gia đình cụ Vũ Huy Thìn, thuộc nhà thờ “Thế khoa đường” chi 5. Bia do Biểu quyến (họ ngoại) soạn. Con trưởng là tú tài Vũ Huy Giám viết. Gần đây gia đình cụ Thìn đã rước bia ấy về nhà.

Sau ngày hội làng, nhiều người họ Vũ các nơi về nhận họ, đã cung tiến vào Miếu Vũ Hồn: Một tượng Thành hoàng, một bức đại tự có 4 chữ “Âm hà tư nguyên” (Uống nước nhớ nguồn), một bức trướng ca ngợi Thành hoàng cùng bảng ghi tên tiến sĩ người làng Mộ Trạch.

Cần phải đọc: Tìm hiểu về di tích Miếu Mạch Lũng

Đánh giá bài viết

Đọc Thật Chậm

Miếu Đôn Nghĩa- Miếu thờ Thần Phạm Tử Nghi

Miếu Đôn Nghĩa- Miếu thờ Thần Phạm Tử Nghi

Miếu ở làng Đôn Nghĩa, huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình, thờ ông Phạm Tử …

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *