Home / Văn hóa & Tôn Giáo / Gia Phả / Cùng tìm hiểu về một số Mẫu lập gia phả

Cùng tìm hiểu về một số Mẫu lập gia phả

Quan niệm về Gia phả, Tộc phả ngày nay cần được nới rộng hơn. Phải có nhận thức mới về giá trị, công dụng của quyển gia sử thiêng liêng này.

Có mấy vấn đề thiết yếu kể sau:

  • Ngoài mục tiêu sử dụng truyền thống kể trên, phả còn phải được coi là căn bản cho việc gia giáo. Không những là chứng liệu để tuân hành các thủ tục lễ nghi gia đình, cùng những lời huấn dạy của các bậc tiền nhân mà còn dùng để giáo dục các thế hệ nối tiếp.

1.MỤC ĐÍCH VÀ Ý NGHĨA CỦA VIỆC THÀNH LẬP GIA PHẢ

Ngày nay, xã hội thăng tiến gia tốc, đồng thời cũng có những phức tạp làm thay đổi và ảnh hưởng xấu trong quần chúng. Giới trẻ nhập nhiễm nhanh lẹ những thói xấu mà học đường không thể nào ngăn chặn, cải hóa kịp, Gia đình cần phối hợp, hơn nữa cần phải đề phòng, cảnh giác ngừa trừ từ trước bằng cách:

a – Đem các tấm gương ăn ở, tư tưởng và sự nghiệp của các bậc tiền nhân ra dạy bảo trong những dịp thích hợp.

b – Đem những lời di ngôn của các bậc tiền nhân nhắc nhở các thế hệ sau.

c – Gây ấn tượng về nề nếp gia phong cho mọi người trong gia tộc và nhất là gây ý thức trách nhiệm với gia đình và xã hội cho lớp trẻ ngay từ Thời kỳ ấu thơ để rèn luyện phẩm cách xứng đáng cho một con người mới.

  • Cần nên tạo ra một tập quán tôn trọng kỷ luật gia đình trong nếp sống ăn ở mới mà phả là một quy cương có tính chất pháp định trong khuôn vi gia đình.
  • Là gạch nối liền, là sợi dây liên kết ràng buộc đời sống tinh thần của những người cùng chung huyết mạch với nhau

phả đồ chi

2. TÊN VÀ THỨ BẬC TIỀN NHÂN

Có mấy vấn đề cần lưu ý trong Tộc phả, Gia phả xưa:

  • Tính cách quan trong ở mỗi đời, người xưa chú trọng tới công danh, cách ăn ở trong xã hội, các tên và mồ mả. Tất cả đều phải được ghi đầy đủ.
  1. Công danh: Nêu rõ công nghiệp, đức độ.
  2. Cách ăn ở: Kể lại tất cả những cách đối nhân xử thế, những tư tưởng và lời dạy bảo con cháu.
  3. Các tên gồm có:
  • Tên huý: Tên cha mẹ đặt cho cũng còn gọi là tên bộ tức, là tên ghi vào sổ bộ hộ tịch, hay tên tục.
  • Tên hiệu: Là tên của những người thuộc ngành văn thi tự đặt cho mình theo một ý nghĩa chọn lựa nào đó. Tên này được ký dưới các bài văn, bài thơ hay sách, còn được gọi là bút hiệu.
  • Tên tự hay tên chữ; Là tên được đặt ra do cha mẹ hay do chính đương sự, có xuất xứ từ Tên húy hay do bản tính chí hướng. Có nhiều văn nhân đặt cho mình nhiều Tên hiệu (khác hơn Tên hiệu thường ba hoặc bốn chữ, Tên tự chỉ có hai mà thôi, ít khi đến ba).
  • Tên thụy (còn gọi là tên hèm) do người sắp lâm chung còn sáng suốt tự đặt cho mình, hoặc do con cháu đặt cho, căn cứ vào tính tình, hành vi lúc sinh thời và chí khí, có làm lễ cáo đặt Tên thụy sau khi tắt thở. Đối với những công thần, quan chức cao trọng, nhà vua thường ban cho Tên thụy trước hay ngay sau khi chết, để dùng ân điển ghi nhớ công lao. Tên thụy được dùng để khấn khi cúng cơm cùng với tên được gọi sinh thời (huý) nên cũng còn gọi thêm là tên cúng cơm (như huý)

Các vua chúa sau khi chết được đặt miếu hiệu là tên viết trên các bài vị để thờ trong miếu. Thí dụ: vua Tự Đức có miếu hiệu là Dực Tôn Anh Hoàng Đế.

Riêng nữ giới theo Phật giáo đa phần đều có pháp danh là tên được đặt cho lúc quy y, cũng được coi như là Tên hiệu, thường dùng tên kép và hầu hết bắt đầu bằng chữ Diêu. (Ở Thiên chúa giáo này nay tên Thánh cũng được coi là Tên hiệu).

Những danh bậc kể trên thường được dùng để khấn trong lễ giỗ.

Ở đây có một vấn đề thường khiến cho những người lập lại gia phả hay đọc gia phả thắc mắc. Đó là cách sắp xếp thứ bậc các đời. Một số gia phả ghi thứ bậc như cụ nội, cụ kỵ, tổ hai đời, tổ ba đời, tổ bốn đời (hoặc là tổ tam đại, tổ tứ đại, tổ ngũ đại) hoặc là ông nội, ông cố, ông sơ,… lại thêm con cháu thì ghi:

  • Cháu, chắt, chút hoặc là:
  • Tằng tôn, huyền tôn, Viễn tôn.

Có lẽ người xưa chưa có quan niệm hệ thống hóa thứ tự bằng những con số cho nên chỉ có thể áp dụng:

1/ Phân loại chi nhánh họ thì dùng hệ can chi, như: chi Giáp, chi Ất (cũng như cách đặt tên các con).

Can có 10 can là Giáp, Ất, Bính, Đinh, Mậu, Kỷ, Canh, Tân, Nhâm, Quý.

Chi có 12 chi (người ta quen gọi là 12 con giáp) là Tý, Sửu, Dần, Mão, Thìn, Tỵ, Ngọ, Mùi, Thân, Dậu, Tuất, Hợi.

Can, Chi kết hợp nhau thành một hệ (nay cũng còn gọi là chu kỳ (Thời gian) trong thời sinh học dùng trong Âm lịch và tính tuổi tác con người. Một vòng của hệ (chu kỳ) này gọi tính là Lục thập hoa giáp (tạo thành một chu kỳ 60, nếu tinh năm trong âm lịch thì cứ 60 năm là một chu kỳ quay trở lại từ đầu.

Do quen dùng can, chi để tính năm, tính tuổi, người xưa đã áp dụng qua chi nhánh họ để phân loại trưởng thứ như sau:

Chi Giáp: Danh hiệu cho con trưởng và giống con cháu về sau.

Chi Ất: Danh hiệu cho người con thứ hai và giống con cháu.

Chi Bính: Con thứ ba…

Chi Đinh: Con thứ tư…

Chi Mậu: Con thứ năm…

2/ Phân thứ bậc các đời thì người xưa áp dụng hệ thống “cửu tộc”. Cửu tộc ở đây không có nghĩa là chín họ mà là chỉ chín đời thân tộc huyết nhục của một người (người lập phả có thể tự lấy mình làm cái mốc chuyển tiếp hay ranh giới cho thứ bậc trên (tổ tiên) và thứ bậc dưới (con cháu).

Với cách ghi thứ bậc bằng “chức danh” này, sau khi người lập phả qua đời, phả truyền lại cho các con cháu, việc ghi thêm của các đời sau sẽ lúng túng, trong việc hệ thống hóa thứ tự từ trên xuống.

Vì vậy, ngày nay khi lập gia phả theo lối mới ta nên áp dụng những con số liên tiên theo thứ tự. Về chi nhánh thì theo số La Mã (I, II, III, IV, V…) hoặc là theo các chữ cái vần A, B, c… về các đời thì cũng theo thứ tự diễn tiến theo những con sốtương ứng về sau:

3.CÁCH SẮP XẾP TƯ LIỆU VỀ MỘT ĐỜI

Không có một quy tắc nào và một sự thống nhất kiểu cách nào được biết về công việc sắp xếp tư liệu trong gia phả, tộc phả xưa. Ngày nay, ta nên làm theo một lối cho có khoa học hcsn.

Mỗi đời người trong gia phả nên sắp xếp theo thứ tự trước sau các tư liệu ở các tiết mục:

  • Trang (hay nhiều trang) lỷ lịch thu gọn.
  • Trang sơ đồ sản sinh (có dán ảnh từng người).
  • Thân thế và sự nghiệp.
  • Ảnh gia đình gồm đủ, nếu có. Nếu tiền nhân chỉ có một đời vợ thì chỉ cần một bức ảnh chụp chung. Trong trường hợp có nhiều bà thì mỗi bà với các con chụp chung vớ ông trong một ảnh, được coi là một bộ phận riêng của gia đình. Các ảnh này cần phải sưu tập có khi mất nhiều công và phiền phức. Nhưng vì muốn có một tộc phả đầy đủ, nhất là tộc phả của một đại tộc danh vọng trong xã hội thì cần phải làm để đời, chớ không vì lẽ tình cảm tư riêng với lòng đố kỵ ganh ghét mà bỏ qua.

Nội dung “Thân thế sự nghiệp”

Đây là phần quan trọng mô tả cả một đời người. Xưa, người ta viết đầy đủ cả trăm trang, đối với những danh nhân, công danh hiển hách. Nay, ta chọn một trong hai cách. Viết tóm lược vào gia phả trong khoảng 10 trang, nhưng đầy đủ những chi tiết chính.Nếu xét thấy có nhiều dữ kiện quan trọng, cần viết dài và nhiều thì dùng một tập vở riêng làm “phụ lục” cho tập gia phả.

Việc biên soạn mới dành cho người đang còn sống dễ dàng hơn người qua đời, nhất là đối với người qua đời đã lâu. cần phải nghiên cứu, truy tầm tư liệu. Với người có nhiều công đức xã hội, để lại nhiều tác phẩm cho đời mà nay thất lạc, cần phải tới thư viện để tra cứu thêm cho đầy đủ.

BẠN ĐÃ BIẾT: NHỮNG VẤN ĐỀ CĂN BẢN VỀ TRA CỨU TỘC HỌ

phả đồ dòng họ

Thông thường, người ta có thể căn cứ vào các đề mục kể sau để truy tầm, qua sách vở hay bằng cách thăm hỏi nhiều người khác am tường, những chi tiết trong cuộc sống của đời người đó.

  1. Tiểu sử
  2. Tên: Đúng vào hồi cha mẹ đặt ra lúc mới sinh là gì, tên tục thường gọi, sau có đổi họ đổi tên hay không (vì sao), Tên tự, Tên hiệu, Tên thuỵ (hèm, cúng cơm). Liệt kê nếu có nhiều Tên tự và hiệu (dùng vào thời gian nào, cho những công việc gì và các tác phẩm văn thi nào).
  3. Quán, gồm có hai phần:

a- Nguyên quán: (dành cho tổ họ), gốc gác xuất phát từ địa phương nào (làng, xã, huyện, phủ, tỉnh) thuộc sắc Tộc nào, vì sao cha mẹ phải thiên cư (nếu có). Định cư ở đâu (làng, xã, huyện, phủ, tỉnh)?

b- Sinh quán: (nơi cha mẹ định cư) ghi rõ, làng, xã, huyện, tỉnh.

c- Ngày tháng năm sinh: Ghi rõ ngày tháng năm theo Âm lịch và Dương lịch. Theo ta, Âm lịch cần để dùng làm kỵ giỗ. Có thể theo năm của triều đại, thí dụ vào năm Thiệu Trị thứ mấy…

d- Học hành và trưởng thành: Học ở trường nào, thầy nào? Đỗ đạt ra làm sao? Ghi rõ khoa thi, trường thi, đỗ thứ hạng như thế nào? Kết quả sự đỗ đạt đó.

e- Chức việc: Được bổ ra làm quan ở đâu, trong những thời gian nào? Kể ra từng chặng và sự thăng tiến hay thay đổi trong những thời kỳ tiếp theo đó. Đạt được chức tước, phẩm hàm, huân chương, kể ra theo thứ tự lớn nhỏ, trước sau. Có để lại những danh phẩm sáng tác văn thơ nào hay không? Bao nhiêu, có mấy loại (kể ra đầy đủ). Có dạy không? Đã từng dạy bao nhiêu học sinh? Có bao nhiêu người đỗ đạt, thứ hạng và được bổ nhiệm làm quan ra sao, dưới triều đại nào?

Đối với những người làm nghề trong xã hội, phải ghi rõ nghề nghiệp đạt tới mức tinh vi như thế nào, có khai sáng ra ngành nghề và được coi là tổ, là thầy của nghề nghiệp không? Có đào tạo ra được những học trò nghề giỏi hay không? Có những người nào trở thành nghệ nhân tên tuổi, những người thợ khéo tay nổi tiếng, những người nào làm nên sự nghiệp lớn trong nghề.

Những bài học kinh nghiệm đời

Trong cuộc đời có những sự kiện nào đáng làm những bài học kinh nghiệm quý giá cho thế nhân và cho con cháu về sau?

  • Những tác phẩm để lại dạy cho người đời những gì? Có sáng tạo ra trường phái, học thuật, chuyên ngành nào hay không?
  • Bình sinh đức độ, ăn ở ra sao? Cách đối nhân xử thế như thế nào? Có hành vi, lời nói nào đáng để đời và ý nghĩa nhất?
  • Tư tưởng ra sao? Quan niệm sống như thế nào?
  • Tính tình ra sao? Ưu khuyết điểm, kể ra.
  • Ông thường nói, nhắc nhở mọi người như thế nào?
  • Để lại những gì?
  1. Tài sản vật chất.
  2. Tài sản tinh thần: Tác phẩm, di ngôn, di chúc, gia huấn… (tác phẩm gồm cả di cảo).
  • Trong gia huấn, ông dạy con cháu những gì, kể ra hết, nguyên văn (nếu ông có viết ra)…

Hôn phối

  • Ông có bao nhiêu người vợ, thứ bậc ra sao? Chuyện phối ngẫu đã có những hoàn cảnh nào, cùng một Thời kỳ hay trước sau kế tục.
  • Ghi rõ các tên họ (cả Tên tự, hiệu, thuỵ) nguyên quán, sinh quán, ngày tháng năm sinh theo Âm lịch và Dương lịch, thân thế, dòng dõi, học vấn, kiến thức, đạo hạnh, tính tình, cách ăn ở, lề lối dưỡng dục con cái… của từng người.

3.Cách đối xử tình cảm của ông đối với từng bà ra sao? Ông chú tâm đến những gì trong đời sống gia đình. Những người nào thành công? Do tự phát tài năng, hay tự lập?

4. Ông có bao nhiêu dòng con và số con. Những người này hiển đạt hay có cách sống ra sao trong trường đời hay do sự giáo dục của cha mẹ? Những người nào thất bại hay sai lầm? Nguyên do tại sao?

  • Tình thương con cháu của ông như thế nào? Ông thương ai, ghét người nào? Tại sao? Ông có đốì xử công minh đối với các con hay không?
  1. Tử táng
  • Ông mãn phần với trường hợp nào? Vào ngày nào, năm nào? (Ghi rõ Âm và Dương lịch). Kể rõ giò lâm chung vì đây là điều quan trọng trong tập tục xưa. Lúc lâm chung như thế nào? Vợ con, thân bằng quyến thuộc có đông đủ không? Trước khi chết, ông có bình tĩnh không? Có trăng trối gì không?
  • Tang chế cử hành ra sao? Mức độ tổ chức tang lễ và thời gian củ hành tang lễ. Theo cổ tục hay theo đời mới. Có điều gì đáng lưu ý, kể ra.
  • Hỏa táng hay an táng? Mộ địa ở đâu? Có cải táng hay không? Vì lý do gì? Mộ có xây kim tĩnh hay nhà mồ, xây gạch hay không? Vào lúc nào?
  • Trường hợp các bà, cũng ghi rõ cho mỗi người theo các điều chỉ dẫn nêu trên.
  • Người con nào sớm mãn phần cũng được ghi theo điều 1, 2, 3 nhưng giản lược hơn.
  1. Hình ảnh gia đình chup chung

Một ảnh duy nhất hay những ảnh cùng với từng bà hôn phối (có các con) được dán tiếp theo thứ tự.

Điều lưu ý

Muốn làm phần thân thế sự nghiệp đầy đủ và hoàn chỉnh, cần soạn thảo trước trên một tập nháp, có nghiên cứu, sửa chữa. Sau khi đã nhận thấy hoàn bị mới chép lại vào phả bằng thứ chữ viết rõ ràng.

Tốt nhất nên đánh máy vi tính, lấy bản in hay chụp dán vào phả cho rõ và đẹp. Điều này rất cần cho việc viết chữ tộc họ hay chi họ của mình ở dưới chữ gia phả.

  1. VIẾT PHẢ KÝ: VIẾT VỀ GIA sử CỦA DÒNG HỌ

Lời nói đầu

Đất nước có lịch sử của dân tộc. Dòng họ tôn tộc phải có nguồn gốc của tổ tiên. Chính vì vậy mỗi dòng họ cần phải có phả ký và cũng chính vì thế mỗi một gia tộc nên sưu tầm, ghi chép, xác minh những cứ liệu, dấu tích theo thứ tự niên biểu của từng Ngành, từng Chi trong một dòng họ cùng chung một thủy tổ để lưu truyền mãi cho đời sau.

NGÔ GIA TỘC PHÔ (lược dịch) đã ghi rõ: Người ta sống trong trời đất ai đều cũng phải có tổ tiên, vì vậy con cháu phải có hiếu, có lễ với tổ tiên và đừng quên rằng có tổ tiên mới có mình”.

Phả ký này sơ thảo trên cơ sở NGỔ GIA TỘC PHÔ những tư liệu có thật, qua các cụ kể lại và có sưu tầm bổ sung thêm những tư liệu mới cho đến nay.

NGỎ TỘC HƯNG THỊNH

Tổ Tiên họ Ngô ta ở Hồng Cương có từ triều Lê (Lê Hiển Tông) ước tính đến nay khoảng trên 222 Năm (1772 – 1995). Nguyên ở thôn Tư Cương (Gang) xã Mỹ Xá, huyện Phụ Phượng, phủ Thái Bình (Sau đổi thành huyện Đa Dực – Đời Cảnh Hưng 1740-1786, triều vua Lê Hiến Tông). Năm 1890 người Pháp thành lập tỉnh Thái Bình, huyện Đa Dực đổi thành huyện Phụ Dực, thuộc tỉnh Thái Bình (Nay là xã An Cầu, huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình). Theo dấu tích và di chỉ để lại thôn Tư Cương có đến nay khoảng gần 1000 năm sau Công nguyên, đời Lê Hoàn (981), một địa danh lịch sử có đền thờ tưởng niệm Đức Thánh Trần. Sinh thời, người dân nơi đây chỉ vui với nghề làm ruộng và đánh bắt cá.

phả đồ thủy tổ

SỰ SINH TRƯỞNG CỦA DÒNG HỌ

Ngành trưởng:

Chi trưởng:……..

Chi hai:……..

Chi ba:………

Chi bốn:……

Chi năm:…………

Ngành thứ:……..

TỪ NĂM 1945 ĐẾN 1995

Ngày đất nước độc lập cũng là ngày cả nước chuẩn bị trải qua hai cuộc chiến tranh trường kỳ. cả hai cuộc chiến 30 năm ròng gian khổ, ác liệt, với bao cuộc chia ly, hy sinh mất mát. Họ Ngô Hữu cũng không thể đứng ngoài và cũng hứng chịu những hy sinh mất mát đó của dân tộc.

VÀI NÉT VỀ TỪ ĐƯỜNG DÒNG HỌ

Trong kháng chiến chống Pháp, ngày 21-5-1952 đại bác Pháp bắn trúng giữa sân, ngày 1-4-1953 chúng đã ném bom tiêu hủy 3 gian nhà tế Tổ gỗ lim, mái rạ. Những đồ thờ tự phần lớn hư hỏng. Riêng Từ đường do các cụ xây dựng kiên cố chỉ bị nứt xà đá, hệ thống hiên hơi nghiêng về phía trước. Cụ Đích (trưởng họ lúc bấy giờ) cùng một số cụ khác đã tạm gia cố, chống đỡ. Đến nay đã trên 40 năm chịu đựng với sự phá hủy của bom đạn và thời gian.

Từ đáy lòng hướng về cội nguồn tổ tiên các con cháu đã tự nguyện cúng tiến. Đợt đầu được trên hai triệu, đợt hai trên ba triệu.

Trong đó:

Từ đường họ Ngô ta tính từ cụ tổ Ngô Hữu Rỹ đến nay đã bốn lần làm và tu tạo. (từ hướng Nam, quay hướng Đông, xây dựng kiên cố, và nay tôn tạo). Mỗi lần làm và tu tạo đều được nâng cao về chất lượng, cấu trúc, và thẩm mỹ… Lần này có đặc trưng riêng: trên gian giữa dựng bốn bức cuốn thư đề rõ: Ngô Tộc Đường (Từ đường họ Ngô) và hai câu đối ca ngợi công đức Tổ tiên, con hiền cháu thảo kế thừa cho đến đời nay và mãi mãi đời sau thịnh vượng.

Hai câu gian giữa:

Tổ Công Tông Đức Thiên Thu Thịnh;

Tử Hiếu Tôn Hiển Vạn Đại Hưng,

Hai câu gian cạnh:

Tiên TỔ Tài Bồi Lưu Hậu Thế;

Tử Tôn Thừa Kế Hiển Tiền Nhân.

KẾT

Những việc con cháu cần làm trong thời gian tới:.

Sưu tầm sơ khảo:……………

Chỉnh lý, hiệu đính:…………

Đã thông qua đại diện các ngành, các chi trong tộc gồm:……….

Tại từ đường họ, ngày 02 tháng 11 năm 1994 (29-9 Giáp Tuất

  1. VIẾT VỂ THUỶ TỔ DÒNG HỌ: VIẾT VỂ THUỶ Tổ CỦA DÒNG HỌ

Theo tài liệu của các bậc tiền nhân, qua tra cứu các linh vật thờ phụng có các di chỉ, và lắng nghe truyền ngôn của các vị trưởng thượng: Qua bao cuộc bể dấu nhà hậu Lê sau một thời gian cực thịnh rồi cũng đến lúc suy vi, triều hậu Lê mất ngôi, xã tắc thuộc về tay Mạc Đăng Dung, con cháu nhà Lê tản lạc, dẫu có lúc trung hưng một Thời gian nhưng cũng khó lòng phục vị. Đến năm Minh Mạng thứ 14 tức 1833 ngài Lê Duy Lương nguyên là quan Án sát tỉnh Ninh Bình dấy binh chống lại triều Nguyễn, tự xưng là Đại Lê Hoàng Tôn, việc bất thành ông bị bắt về kinh thành Huế xử trảm. Để tránh mầm phản loạn, triều Nguyễn ra lệnh phân tán con cháu nhà họ Lê bằng cách đưa vào đàng trong thuộc tỉnh Quảng Ngãi và Bình Định cấp đất đai và tiền bạc để lập nghiệp. Thủy tổ của chúng ta là cụ Lê Văn Liêm, người làng Lam Sơn huyện Thụy Nguyên phủ Thiệu Hóa, tỉnh Thanh Hóa vào định cư tại làng Mỹ Lợi, xã Phước Thành huyện Tuy Viễn nay thuộc thôn Long Mỹ , xã Thanh Long, huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định.

Từ nhiều tư liệu góp nhặt thủy tổ của chúng ta có thể là hậu duệ của ngài Lê Trừ nhưng theo tra cứu của chúng tôi nhà hậu Lê có hai ngài mang tên Lê Trừ:…………………………………………..

Theo Hán văn Tân Giáo khoa thư:

“Mộc tất hữu bổn, Thủy tất hữu nguyên, Nhân tất hữu tổ tiên”,

Cây có cội, nước có nguồn, người ta hẳn có tổ tiên nếu không giũ được giềng mối gia phả của tổ tông e rằng sẽ quên đi cội nguồn. Kính xin thân bằng quyên thuộc vui lòng liên lạc với chúng tôi để bổ sung cho gia phả này ngày càng đầy đủ.

Xin đặt biệt ghi nhận công lao sưu tầm, hệ thống nhiều thông tin quý báu của:…………….

  1. GIỚI THIỆU GIA PHẢ:

GIA PHẢ

TỘC NGÔ-LÊ (CỬ-CHI) – SÀI GÒN

Lời nói tiêu biểu của họ tộc ở tại

Các ngày lễ giỗ:

Tổng quan gia phả:

  • Số đời từ thuỷ tổ đến con cháu là……
  • Sô lượng các gia đình từ thuỷ tổ đến con cháu là……
  • Số lượng người từ thuỷ tổ đến con cháu là….
  1. VIẾT VẼ TỘC  (TỨC LÀ QUY ĐỊNH – GIAO ước RIÊNG CỦA TỘC HỌ):

TỘC ƯỚC CỦA DÒNG HỌ NGÔ – LÊ

  • Vài lời nhắc nhở

Tràm nết tốt, Hiếu đầu phải nhớ,

Từ nơi đâu, mới có thân này ?

“Ngọt bùi nhớ lúc đắng cay,

Qua sông nhớ suối, có ngày nhớ đêm” (Thơ Tố Hữu)

Đừng như kẻ đặng chim bẻ ná,

Hay như người được cá quên nơm.

Cây có cội, nước có nguồn,

Tổ tiên phải kính, khói hương phụng thờ.

Sôhg đạo đức, ngày giờ tiết kiệm,

Luôn siêng năng tránh tiếng bê tha.

Làm nên sự nghiệp gần xa,

Sao cho xứng đáng:”Con nhà Ngô – Lê”!

  • Chánh Nguyên – 2004
  1. Sinh hoạt của họ tộc:

A – Cúng tế:………..

B – Hội họp:………..

  1. Thực hiện nội quy sinh hoạt: (xem nội quy ở phần phả kỹ)
  • Thay đổi nội quy

Nội quy soạn thảo lần đầu này chỉ nêu lên những điểm cơ bản, nên các thành viên trong BCV+BQT và tất cả con cháu trong họ tộc, có quyền góp ý, đề nghị sửa đổi, bổ sung những điều cần thiết cho bản nội quy hoàn chỉnh hơn, theo yêu cầu thực tế của thời đại xã hội.

  1. Kết luận:

Tất cả con cháu không phân biệt nội, ngoại của bảy chi trong họ tộc Ngô-Lê, đều có quyền lợi và nghĩa vụ thực hiện nghiêm chỉnh nội quy này.

  1. VIẾT VẼ TÀI SẢN HƯƠNG HỎA CỦA DÒNG HỌ: TÀI SẢN, HƯƠNG HỎA, GHI CHÚ

Năm Giáp Thân – 1944

Từ đường chi họ được xây dựng thờ cụ cao tổ Đỗ Quý Công Húy Mai. Do cụ Đỗ Văn Tý đứng ra khởi công xây dựng, mọi người trong họ đóng góp công sức.

Năm Kỷ Tỵ -1989

Từ đường bị hư hỏng nhiều, nhân ngày giỗ tổ 14/7 các cụ, các ông bà, con cháu trong họ về đông đủ. Ông Đỗ Văn Âm – trưởng họ đã chủ trì cuộc họp bàn việc tu sửa từ đường. Họ đã quyết định sửa lại từ đường theo 5 hạng mục:

  • – Làm lại toàn bộ mái hiên phía trước;
  • – Đóng mổi cửa chính và cửa bên;
  • – Quét vôi và kẻ vẽ lại toàn bộ trong, ngoài;
  • – Xây tường hoa khuôn viên phía trước;
  • – Chuyển gia phả sang chữ Quốc ngữ.

Năm Kỷ Mão -1999

Từ đường chi họ sau hơn nửa thế kỷ tồn tại nhiều chi tiết đã xuống cấp, hư hỏng. Nhân ngày giỗ tổ 29 tháng giêng năm Kỷ Mão – 1999, các thành viên trong họ đã họp và thông nhất trùng tu từ Đường và cuối mùa thu năm Kỷ Mão – 1999.

/ – Các hạng mục xây dựng:

1/ Xây thêm phần hiên phía trước;

2/ Xây thêm lâu các;

3/ Lợp lại toàn bộ mái ngói;

4/ Làm lại các câu đối bên ngoài bằng đá;

5/ Trát lại toàn bộ tường trong, ngoài;

6/ Sơn lại đồ thờ;

7/ Làm lại bằng gỗ bức đại tự và đôi câu đối trong từ đường, (bức đại tự và đôi câu đối này nguyên bằng giang kết, khung gỗ do cụ Đỗ Văn cẩn bến cúng năm Mậu Tý – 1948)

II  Kinh phí:

Mỗi suất đinh trong họ đóng góp 50.000đ và 5 ngày công. Mỗi ngày công lao động được tính là 10,000đ, ai không đóng góp được công thì có thể đóng góp bằng tiền. Ngoài phần đóng góp theo suất đinh thì còn có phần tiến cúng của các thành viên trong họ.

tổng quát phả đồ

Danh sách tiến cúng:

III – Ban kiến thiết:

1/ Đỗ Vãn Ấm – Trưởng ban, điều hành chung,

2/ Đỗ Văn Chuân – Thư ký,

3/ Đỗ Văn Tụ – Giám sát thi công,

4/ ĐỖ Quy Nhơn – Giám sát thi công,

5/ ĐỖ Trọng Hùng – Liên hệ thợ và vật liệu,

6/ Nguyễn Thị Tâm – Thủ quỹ.

Vật liệu xây dựng mua tại cửa hàng của ông Đỗ Văn Đang, ông Đang chỉ lấy tiền theo giá nhập vào, không tính lãi.

Năm Canh Thìn – 2000

Ngày 9 tháng giêng họ tổ chức họp trù bị cho lễ giỗ tổ 29 tháng giêng. Họ chọn cử con cháu trong họ thành lập 2 đội tế tổ, đội tế nam và đội tế nữ. Hai đội tế này tập luyện vào các buổi tối để chuẩn bị cho lễ tế tổ 29 tháng giêng.

Trong dịp ỉế tổ, họ nhận được sự tiến cúng của các thành viên:

Những anh em, con cháu sống xa quê

TP HỒ Chí Minh:……….

Hà Nội:…………

Quảng Ninh:………………..

Mọi thông tin cập nhất của thành viên trong họ đề nghị liên hệ với:

Ngoài ra, với từng người trong tộc họ, có thể mô tả rất chi tiết các thông tin cần thiết:

Chi tiết gia đình là con của: Trần Thừa – đời thứ: 4 Người chồng (hay rể) trong gia đình Tên

Trần cảnh

Tên thường   Cự, Bố

Tên tự

Là con thứ Ngày sinh Thụy hiệu Hưởng thọ

Ngày mất Nơi an táng

Sự nghiệp, công đức, ghi chú

Tổ Trần cảnh, sinh năm Mậu Dồn (1218), là cháu nội của tổ Trần Lý, con trai thứ của tổ Trần Thừa, em ruột của tổ bá Trần Liễu, là anh ruột của tổ thúc Trần Nhật Hiệu, Trần Di Ái…

Dòng dõi họ Trần, từ tổ Trần Lý, trở về trước sống chuyên nghề chài lưới trên sông nước. Từ xã An Sinh, huyện Đông Triều, tỉnh Hải Dương nay thuộc tỉnh Quảng Ninh, lần hồi chuyển dần về làng Tức Mạc, phủ Thiên Trưởng tỉnh Nam Định. Trên đường làm ăn từ Tức Mạc, phủ Thiên Trường… đã lần đến vùng làng Hải Âp – Lữ Gia thuộc huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình là vùng đất trù phú, rồi định cư tại đó. Khởi đầu từ cuộc hôn nhân giữa bà Trần Thị Dung với hoàng tử Lý Hạo sảm, con trai vua Cao Tông nhà Lý, nên được thái tô sâm phong tặng cho ông Trần Lý nhạc phụ của mình tước “Minh Tự’ vào năm 1209. Từ đấy, gia đình ông Trần Lý giàu có ở Hải Ấp bắt đầu tham gia công việc triều chính… (Trích trang 82 “Các triều đại Việt Nam”)

Năm Canh Ngọ (1210), Ông Trần Lý với các người con, cháu là Trần Tự Khánh, Trần Thừa, Trần Thủ Độ… đã tập họp hương binh đi đánh dẹp bọn phản loạn Quách Bốc và tháng ba năm ấy, ông Trần Lý chết trong trận chiến đấu này. Người con trai trưởng của ông Trần Lý là Trần Tự Khánh thay cha cầm quân chiến đấu, phò tá hoàng tử Sảm trở về khôi phục kinh thành và đi rước vua Lý Cao Tông cũng đang chạy loạn ồ vùng Tam Nông – Phú Thọ về cung. Nên Trần Tự Khánh được triều đình nhà Lý phong cho làm Lưu thuận bá. Một năm sau, năm Tân Mùi (1211) Trần Tự Khánh được triều đình gia phong làm “Chương thành hầu” (“Đại Việt Sử Ký Toàn Thư” – bản kỷ, quyển 4, tờ 26a – “Danh tướng Việt Nam” tập I của Nguyễn Khắc Thuần trang 69 trích dẫn).

Các sử gia xưa đã mô tả đại lược về cuộc hôn nhân giữa Lý Chiêu Hoàng và Trần Cảnh như sau:

Trần Cảnh lúc bấy giờ mới lên 7 tuổi, lo đứng ngoài cửa cung để chầu hầu nhà vua. Một hôm, Trần cảnh bưng nước cho vua rửa, nhân đấy mới được vào cung; vua Lý Chiêu Hoàng vừa trông thấy đã lấy làm ưa. Cho nên khi dạo chơi vào ban đêm, vua bà vẫn cho gọi Trần Cảnh đi cùng; thấy Trần Cảnh đứng chỗ tối thì vua thân đến nô đùa, nắm tóc hoặc đứng chèn lên bóng…

Một hôm, Trần Cảnh bưng chậu nước đứng hầu Chiêu Hoàng rửa mặt, vua bà lấy tay vốc nước tát ướt hết cả mặt Trần Cảnh, rồi cười và chọc ghẹo… Khi Trần Cảnh bưng khăn lau thì vua bà lấy khăn ném cho Cảnh. Trần cảnh không dám nói năng gì cả, chỉ về ngầm thưa vói Trần Thủ Độ. Trần Thủ Độ nói rằng:

– Nếu thực như thế thì họ ta sẽ trở thành hoàng tộc hay là sẽ bị diệt hết đây Ỷ về công lao sự nghiệp – đạo đức… của Trần cảnh – Vua Trần Thái Tông đã được sử sách chính thống xưa và nay… tiếp tục ca ngợi:……………………………………..

Trần Thủ Độ mất tháng giêng năm Giáp Tý (1264), thọ 70 tuổi. Ở buổi đầu thời đại nhà Trần, ông Trần Thủ Độ là người duy nhất được chính vua Trần Thái Tông lập đền thờ ông ngay khi ông đang còn sống. Khi mất, ông được triều đình truy tặng hàm “Thượng Phụ Thái sư’ tước “Trung Vũ Đại Vương’’. Điều này thể hiện vua Trần đánh giá rất cao tài năng và sự công hiến của ông trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước, (trang 78 và trang 84 Sách “Danh tướng Việt Nam” tập I).

Cũng có một số sử sách trước đây chê trách, phê phán Trần Thủ Độ là:……….

Nhiều sử sách và báo chí xưa và nay có nhiều bài viết nói về Trần Thủ Độ:….

Người vợ, (hay con dâu) trong gia đình Các anh em, dâu rể:

Đọc thêm: Cách lập gia phả & Nội dung cần có trong gia phả

Đánh giá bài viết

Đọc Thật Chậm

Nguồn gốc và sự hình thành của phả hệ học

“Phả hệ học” là ngành khoa học chuyên nghiên cứu gia phả, tộc phả. “Gia …

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *