Home / Làng Nghề / Cùng khám phá Làng Trà Cổ – Quảng Ninh

Cùng khám phá Làng Trà Cổ – Quảng Ninh

Trà Cổ nơi địa đầu phía bắc của Tổ quốc, mảnh đất còn nhiều vẻ hoang sơ cổ kính của ngót nửa thế kỷ với bao thế hệ người Việt… Một làng quê hiếm hoi có đủ những tín ngưỡng văn hóa, có nhiều đình, chùa, miếu, nhà thờ…

Những điều cần biết về làng Trà Cổ

Trà Cổ từng là một hòn đảo cách thị xã Móng Cái gần chục cây số, cho đến năm 1901 mới có con đường nối liền hòn đảo này Với đất liền. Trà cổ thành điểm du lịch hấp dẫn du khách với những địa danh thơ mộng như Sa Vỹ, Cồn Mang… và rừng dương bạt ngàn xanh tít tắp hun hút phía chân trời.

Hai tiếng Trà cổ là cả một pho tư liệu sống với những cứ liệu không dễ gì bác bỏ. Trà cổ được Nhà nước phong kiến xưa chia thành 6 giáp (mỗi giáp bằng một thôn như bây giờ) đó là: Nam Thọ, Đông Thịnh, Ngọc Sơn, Tràng Lộ, Sa Vỹ và Bình La. Người Trà cổ có hai nghề phát đạt là buôn bán trên biển và nghề đóng thuyền cánh dơi, số ít làm nông nghiệp. Đặc biệt nghề đóng thuyền đã chinh phục được những ngư phủ khó tính, bởi nó đã được “nhà nước bảo hộ” đưa đi triển lãm tại Paris (Pháp) năm 1943- 1945. Bây giờ người Trà cổ ở Sài Gòn phần nào còn mang theo nghề của cha ông mình là đóng những con thuyền cánh dơi – quà lưu niệm – rất phát đạt trên thị trường này trong nhiều năm qua. Theo nhà giáo lão thành Đoàn Chấn – nguyên là học trò của nhà văn nhà giáo Nguyễn Công Hoan – kể rằng, hai tiếng Trà cổ là do hai cái lý do rất … giai thoại sau đây. Trà cổ có tên cũ là làng Vạn hay Vạn Giã. Bởi trong ngôi chùa Linh Khánh Tự của làng còn chiếc chuông (thế kỷ XV) ghi rõ: “Trà cổ là làng Vạn hay Vạn Giã!” Còn người bên Giang Bình, Trung Hoa lại gọi là làng Vân Trụ, bởi lẽ hàng ngày họ nhìn từ bên đó sang, lúc nào cũng thấy có hình một cột mây rất lớn phía Trà cổ nên gọi là làng Vân Trụ!

hội làng trà cổ

Có thể do bên đó có rất nhiều người Kinh ta di cư sang nhớ về quê cũ mà luận ra thành tên làng như vậy. Nhưng cái tên Trà cổ đã được định danh có lẽ là bởi những lý do sau: Xin được bắt đầu từ câu chuyện của mười hai chàng trai trên một con thuyền từ phía Đồ Sơn đã tấp vào hòn đảo hoang vắng này, định sinh cơ lập nghiệp lâu dài. Sau một thời gian dài, sáu người muốn quay về cô hương. Trước khi về họ đã hát rằng:

Ở đây ăn bổng lộc gì

Lộc sung thì chát, lộc si thì già.

Sáu người ở lại bèn hát rằng:

Ở đây vui thú non tiên

Rạng ngày lọc nước lấy tiền nuôi nhau

Và sáu người ở lại đã khai sơn phá thạch, kiến tạo nên một Trà cố sầm uất và thịnh vượng. Người đời sau đã tôn cả sáu vị là Thành hoàng làng và thờ trang trọng trong ngôi đình Trà cổ. Hàng năm cứ vào ngày 1 tháng 6 âm lịch làng tổ chức vào đám rất linh đình.

Nhưng còn một lý do khác nữa cũng không kém phần thuyết phục và mang tính lịch sử rõ rệt, đó là vào Thời Lê Trung Hưng, vua tôi nhà Mạc bị thất thế đã ra đây lánh nạn. Ở Trà cổ hiện nay vẫn còn những dấu tích của nhà Mạc như: sông cầu Voi (còn gọi là sống nhà Mạc), nghề làm bát gốm từng rất thịnh vượng nơi đây – bát gồm còn gọi là bát nhà Mạc. (ơ thị xã Móng Cái gòi còn có phố Lò Bát)… Cái tên Trà cổ là do đám tàn quân nhà Mạc đặt mới đúng, bởi cái lẽ, ở quê hương của họ – đất Nghi Dương xưa, giờ là Đồ Sơn – từng có hai địa danh quê gốc của nhà Mạc là Trà Hương và cổ Trai. Phải chăng, đám tàn quân nhà Mạc muốn cố gắng lưu giữ hình ảnh quê nhà mà lấy hai chữ đầu của quê gốc, tạo thành hai tiếng Trà cổ – hư thực thế nào không rõ, những câu thành ngữ “Trà cổ tổ Đồ Sơn” vẫn là lời nhắc nhở con cháu Trà cổ không bao giờ được quên nguồn cội của mình? Điều đó càng khẳng định những người Đồ Sơn đã đến đất này, xây dựng và khẳng định chủ quyền trên hòn đảo chót đầu cực bắc của Tổ quốc.

Có một điều lạ, có lẽ chưa làng quê nào ở Việt Nam giống như ở Trà cổ, một làng quê tụ hội rất đậm đặc những tín ngưỡng văn hóa của người Việt. Một làng quê có đủ cả, đình, chùa, miếu (có cả miếu Ông và miếu Bà) và nhà thờ Thiên Chúa giáo! Ngôi đình làng có tuổi thọ dư 500 năm thờ sáu ông Thành hoàng làng được Nhà nước ta công nhận Di tích lịch sử văn hóa từ năm 1976. Ngôi đình toạ lạc trên một khu đất rộng rãi và sạch sẽ ở trung tâm của làng, nhìn ra biển. Trước cửa đình có bức đại tự: Nam Sơn Tính Thọ – Thánh cung vạn tuế, trong hậu cung có bức Vạn cổ từ… Chùa Linh Khánh phía bắc làng xây dựng từ thế kỷ XV – được xây theo hình chữ Hồi – theo một số nhà nghiên cứu, đây cũng là một lối trong kiến trúc chùa của người Việt từ xa xưa, rất lạ và hiếm thấy. Nếu như đình Trà cổ hiện chỉ còn lưu giữ được 6 sắc phong của triều đình nhà Nguyễn, thì ở ngôi chùa này còn lưu giữ được khá nhiều các pho tượng cổ và đồ thờ quý. Trong đó có những bức tượng có lối khắc họa vừa lạ lùng vừa bí hiểm (từ thế kỷ XVI) như tượng Tam Thế, tượng Quan Âm tọa sơn, tượng Thích Ca sơ sinh… Ngôi chùa hiện nay vẫn còn nhỏ bé khiêm nhường nép dưới hai cây chay cổ thụ có tuổi thọ hàng trăm năm. Linh Khánh tự đã được Bộ Văn hoá – tông tin trao bằng công nhận Di tích lịch sử văn hoá năm 1999. Phía nam bán đảo Trà cổ có nhà thờ Thiên chúa giáo rất lớn, được xây dựng vào năm 1914 – góp cho Trà Cổ một công trình kiến trúc bề thế và hoành tráng. Mặc dù dân Thiên chúa giáo đến đây từ rất sớm, nhưng mãi tới năm 1884 họ mới thật sự tạo thành một khu dân cư đông đúc – dân theo đạo Thiên chúa tập trung ở Tràng Lộ – phía đông bán đảo là chủ yếu, bây giờ có khoảng gần một ngàn giáo dân. Bên cạnh những địa chỉ văn hóa trên, Trà Cổ còn có miếu Ông và miếu Bà (miếu Bà thờ Thánh Mẫu – miếu Ông thờ Nguyễn Hữu cầu). Có một điều đặc biệt là trước khi vào đám, bao giờ làng cũng tổ chức rước miếu Ông rất lớn, cho tới ngày nay người dân Trà cổ cũng không lý giải được điều này! Theo nhà giáo Đoàn Chấn, dân làng chỉ quen gọi là miếu Ông, nhưng khi thầy Nguyễn Công Hoan tới đây dạy học, thầy Hoan có dịch đôi câu đối trong miếu Ông, mọi người mới biết đó là miếu thờ.. Nguyễn Hữu cầu! Đôi câu đối đó như sau:

Trà loan hải đảo cam tuyền hữu,

Cổ độ cơ tâm võng nguyệt cầu,

(Tạm dịch là: Ở nơi hòn đảo xinh đẹp này có một tâm hồn lớn trong sáng đến cư ngụ là Nguyễn Hữu cầu). Nghĩa là sau cuộc dấy binh khởi nghĩa (1772-1782) bị thất bại, Nguyễn Hữu cầu đã phiêu dạt lên bán đảo Trà cổ! Dấu tích của đám tàn quân này là một chiếc chiêng cổ có tiếng kêu rất đặc biệt, dân làng Trà cổ cũng giữ gìn rất chu đáo. Nhưng vào năm 1914 do có việc chia làng Trà cổ ra thêm làng Bình Ngọc, làng mới Bình Ngọc đã “bí mật” rước chiếc chiêng đó về làng mình, hai làng không thỏa thuận được việc giữ chiêng nên đã để chiếc chiêng quý đó thành… phế vật?

các ông voi trong đền trà cổ

Bán đảo Trà cổ nhìn trên bản đồ hành chính thị xã Móng Cái trông như một con thuyền đầy cát trắng lóa, hoang vu và nhỏ bé vô cùng trước biển cả! Có lẽ vì vị trí địa lý này mà Trà cổ có điều kiện buôn bán thông thường và việc nhập cư rất thuận lợi. Những đạo quân bại trận hay những thường dân dám chống lại triều định bị dồn đuổi đều ghé nơi đây. Có lẽ vì vậy mà dân Trà cổ đã đúc kết: “Chơi với dân Trà cổ không mất rổ cũng mất rá”. Nghĩa là nơi quần cư này dân rất dữ, họ dữ vì lý do sinh tồn, dữ để tự vệ cho mình mà thôi… Theo Đại Nam nhất thống chí, Thời ông Nguyễn Công Trứ làm Tổng đốc tỉnh Đông đã phải tấu trình lên triều đình cho đem quân ra đây dẹp loạn, nhất là mấy hòn đảo cạnh Trà cổ như Chằn Anh, Chằn Em hay xuất hiện những toán cướp… Nhờ có đặc điểm địa lý như vậy nên người dân Trà cổ làm ăn buôn bán khá phát đạt. Có một người tên là Bùi Văn Chu đã có rất nhiều đóng góp cho Trà cổ, ông từng có hiệu buôn bán bát tại Đông Hưng (Trung Quốc), có xưởng sản xuất nước mắm, chế biến thủy hải sản… Vào năm 1920, ông Chu đã đầu tư xây dựng hai phòng học tại Trà cổ, rồi mơi thầy giáo trong đất liền đến dạy (ngôi trường này nhà văn Nguyễn Công Hoan đã đến dạy học năm 1939) – bây giờ là Trường Phổ thông Trung học cơ sở Trà cổ hai tầng khang trang. Ông Chu còn đầu tư xây chợ, tập hợp 17 hộ dân đắp đê ngăn mặn và trồng cây chắn cát để làm nông nghiệp, tập hợp 20 chủ hộ khác thành lập tập đoàn đánh cá. Hiện giờ vẫn còn con đê mang tên ông (đê Hàn Chu), người Trà cổ quen gọi ông là Hàn Chu. Chữ Hàn là do Nhà nước Nam triều (nhà Nguyễn) phong cho ông chức Hàn lâm vì có công xây dựng làng ấp Trà cổ. Ông có bốn người con đều hoạt động cách mạng từ thời tiền khởi nghĩa, có một người con trai là liệt sĩ. Các con ông đều là những cán bộ nòng cốt của phong trào cách mạng Trà cổ nói riêng và của Quảng Ninh nói chung.

Trong suốt chiều dài lịch sử của hơn năm trăm năm qua, bao thế hệ người Trà cổ đã không ngừng xây dựng một làng quê giàu mạnh, vẫn giữ gìn những sắc thái mang đậm đà bản sắc văn hóa dân tộc. Bằng chứng là người Trà Cổ vẫn yên bình trong những căn nhà ô vuông bàn cờ lợp ngói “âm phủ” sậm màu thời gian, chạy dọc những con đường cuồn cuộn cát trải dài theo hình cánh cung của bán đảo Trà Cổ. Mặc cho một Trà cổ mới tưng bừng với thế kỷ của du lịch đang hiện hữu phía trước làng, với những tòa biệt thự mới sang trọng và hiện đại, một Trà cổ phường của thị xã Móng cái và một Trà cổ cổ kính nơi địa đầu Tổ quốc song hành cùng nhau! Để người dân Trà cổ không hổ thẹn khi nói về quê hương mình, với đôi câu đối trong đình làng của cha ông để lại “Địa cửu thiên trường. Dân đức quy hậu”. Nghĩa là cái sự đất đai là muôn thuở nhưng phải có dân đức dầy mới hòng bồi đắp nên một làng quê thịnh vượng.

Xem thêm: Làng Xà Cầu- Địa điểm mổ xe lớn nhất Hà Tây

Đánh giá bài viết
product image
Số người đánh giá
5 based on 2 votes
Tên Công Ty
Tiền Âm Phủ Quyết Vượng
Tên Sản Phẩm
Cùng khám phá Làng Trà Cổ - Quảng Ninh

Đọc Thật Chậm

Làng Trung Lao yêu dấu - Nam Định

Làng Trung Lao yêu dấu – Nam Định

Trung Lao là một làng quê chất phác, nằm giữa đồng bằng sông Hồng, với …

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *