Tin Hot
Home / Làng Nghề / Tìm về ngôi Làng Phú Thị – Hưng Yên

Tìm về ngôi Làng Phú Thị – Hưng Yên

Anh hùng đánh giặc Nguyên Mông; Anh hùng thời thắng Mỹ, Anh hùng thời đổi mới, phát triển kinh tế. Quê hương Tiến sĩ, nhà thơ Chu Mạnh Trinh; nhà nghiên cứu văn học sử Giáo sư Dương Quảng Hàm; danh họa Dương Bích Liên…

Xin nói ngay, miền Bắc có hai làng Phú Thị, Phú Thị huyện Gia Lâm – Hà Nội, quê hương thánh thơ Cao Bá Quát và Phú Thị huyện Văn Giang – Hưng Yên quê hương Chu Mạnh Trinh, Dương Quảng Hàm… cũng xin nói ngay, tra cuốn “Tổng, trấn xã danh bị lãm” (tên các làng, xã Việt Nam) thời Gia Long thì tên cả hai làng đều viết từ Hán, giống nhau: Phú là giàu có, giàu sang, thị là cái chợ. Không ít người viết nhầm Phú Thụy(?). Càng không phải như một “ông đồ tân” nào đó yêu quê hương không phải lôi, viết chữ thị nghĩa là nhìn (thị lực) và giải thích “Phú thị có nghĩa tầm nhìn xa”!

Vua Trần Nhân Tông đặt tên cho Làng Phú Thị

Làng Phú Thị trước đây thuộc tổng Mễ sở, phủ Khoái Châu tỉnh Hưng Yên, có nghĩa một vùng quê nghèo, rất nghèo, nên mới có câu “Oai oái như phủ Khoái xin lương”. Mễ Sở nguyên là một làng lớn, dân cư ngày càng đông lên, mới chia thành 3 làng: Mễ sở, Phú Thị và Nhạn Tháp. Các cụ gọi “Nhất xã tam thôn” là thế. Chứng tích đan xen còn nhiều. Nằm trên địa bàn Phú Thị, nhưng chợ vẫn mang tên Chợ Mễ, bến đò vẫn là bến Mễ. Còn Tháp Nhạn là cái đồn cạnh trên bờ sông Hồng. Xưa gọi đây là Bảo Mễ sở, xây bằng gạch, xa nom giống một tháp cao, nơi kiểm tra hàng hóa, thu thuế thuyền bè qua lại bảo vệ vòng ngoài kinh thành Thăng Long. Từ cái tháp có nhiều chim nhạn đậu trở thành biểu tượng của làng, mới nên tên gọi làng Nhạn Tháp.

ngôi làng phú thị

Nhớ lại truyền thuyết xa xưa duyên trời xếp đặt nàng công chúa Tiên Dung con gái vua Hùng đã gặp chàng trai đánh cá nghèo khổ Chử Đồng Tử trên bãi cát Tự Nhiên. Khi ấy, vùng đất này hẳn còn hoang sơ lắm. Nhưng xóm làng cứ đông vui dần lên, biển lùi xa mãi. Thời vua Lê chúa Trịnh, nơi đặt thương cảng Phố Hiến chính là thị xã Hưng Yên ngày này. Những năm 90 thế kỷ trước, dân Mễ Sở trong khi đào mương còn tìm thấy hai xương cá hóa thạch, xương sống, mỗi đốt to bằng cái CỐI đá. Nhắc lại chuyện cũ để nói Phú Thị là làng Việt cổ, một trong những trung tâm văn minh, văn hóa vùng lúa nước sông Hồng. Lại nghe kể cái tên Mễ sở là do vua Trần Nhân Tông đặt cho trong dịp tổng kết, khao thưởng chiến thắng giặc Nguyên Mông. Bởi trên một giải Hàm Tử – Chương Dương, nơi đây là kho quân lương của nhà Trần (Mễ sở: kho gạo). Lại có chuyện trong một trận thủy chiến, quân ta đuổi theo thuyền giặc ráo riết đến mức nhiều thuyền xơ đứt cả thừng chão buộc mái chèo. Được tin, ngay lập’ tức dân làng Phú Thị (vốn có nghề nhuộm vải) đã xé vải ra bện thành thừng chão buộc vào cọc chèo cho thủy quân của ta tiếp tục truy kích thuyền giặc.

Chiến công giữ nước giữ làng kể còn nhiều lắm. Đây là căn cứ nghĩa quân Bãi Sậy. Đây là địa bàn hoạt động của Xứ ủy Cộng sản Bắc Kỳ. Bến đò Mễ trở thành bến phà, cầu phao Mễ Sở bắc ngang sống Hồng, một nhánh huyết mạch quan trọng nối liền đường số 5 với đường 1 của hậu phương lớn miền Bắc chi viện cho tiền tuyến lớn miền Nam đánh thắng giặc Mỹ xâm lược. Hồ Chủ tịch và Đại tướng Võ Nguyên Giáp trong một chiều tối còn vẳng tiếng máy bay phản lực Mỹ đã đến thăm, động viên chiến sĩ công binh và dân quân du kích địa phương bên cầu phao bắc ngang sông Hồng qua bến Mễ sở này.

Trên vết tích xưa Văn Nhã Hạng và Tiến sĩ Dinh Môn. Phú Thị có Tiến sĩ Đặng Khanh (Đặng Bân) khai khoa từ thời Lê. Trước đó, từ Thời Trần, làng có người đỗ Thái học sinh và sau này, Thời Nguyễn, có Ngự sử Chu Duy Tĩnh và con trai là Tiến sĩ Chu Mạnh Trinh. Ông chẳng những là nhà thơ nổi tiếng mà còn là một kiến trúc sư tài hoa với công trình để lại là khu đền Chính Đa Hòa thờ Chử Đồng Tử – Tiên Dung hết sức nguy nga tráng lệ với lễ hội dân gian tưng bừng ba năm mở một lần, hiện đang hấp dẫn đông đảo khách du lịch trong và ngoài nước.

Nối tiếp truyền thông văn hiến tổ tông, rất mừng, làng Phú Thị thế kỷ XX có nhà giáo mô phạm, nhà nghiên cứu tiên phong lịch sử văn học Việt Nam Dương Quảng Hàm; danh họa Dương Bích Liên… Phú Thị có một Anh hùng quân đội trong thời kỳ chống Mỹ, một Anh hùng động công nhân lái máy gặt Thời khôi phục kinh tế và đây thêm một anh hùng lao động trí thức Nhà giáo h dân Dương Trọng Bái. Rất đáng ngạc nhiên, Ẻhú Thị trong Mễ Sở, xã anh hùng lực lượng vũ trang lại đồng là xã vừa được Nhà nước tuyên dương đơn vị anh 1 Thời kỳ đổi mới, phát triển kinh tế. Phú Thị, Mễ Sở đã hàng nghìn đoàn đại biểu trong cả nước tối tham qua tư duy năng động chuyển đổi cơ cấu cây trồng, làm đất nước, làm giàu quê hương. Phú Thị là một trong làng đầu tiên của tỉnh Hưng Yên được công nhận làng hóa với xóm thôn trù phú, đường trải bê tông, các trình nhà văn hóa, thư viện, trường phổ thông cơ Sở… dựng bề thế bên cạnh ngôi chùa cổ kính, những nhà tit treo nhiều câu đối, hoành phi, những chiếc cổng gạc thế và vết tích cổng “Tiến sĩ Dinh Môn”, “Văn Nhã H (Chữ Hán – hạng là cái ngõ)… Một làng Việt cổ nl đang mọc lên nhiều nhà mái ngói đỏ, nhà mái bằng tầng, ba tầng giữa những vườn cây xum xuê quả ngọt, bon sai, cây cảnh, ao thả cá, ba ba… Khỏi phải nói đời người dân được nâng cao với những tiện nghi sinh hoạt đại. Và khỏi phải nhắc lại trong nạn đói Ât Dậu 1945, lịch sử đảng bộ Mễ Sở thì chỉ mấy làng đã có 102 r chết đói, 110 người bỏ làng đi biệt tích vì đói nghèo.

Làng và chuyện nghĩa xóm tình làng

Nhưng điều đáng nói là làng Phú Thị hôm nay coi giữ trong ngõ xóm sân vườn mình một nền văn hóa pb thể rất đáng trân trọng. Trong văn tế thành hoàng làng Phú Thị có câu “Đồng dân bản xã Khắc cốt ghi tâm Hoằng Tín Hầu”… Đoạn này nhằm ca ngợi ân đức vị hầu tước họ Hoằng, thường gọi cụ già Hoằng, một người đã có công minh oan, giúp cho dân làng Phú Thị thoát khỏi nạn lớn triệt hạ toàn thôn. Cụ già Hoằng quê tận bên xã Tự Nhiên huyện Thường Tín tỉnh Hà Tây. Vì vậy, không chỉ nhắc tới trong văn tế thành hoàng đầu xuân mà hàng năm cứ đến ngày giỗ cụ, dân làng Phú Thị đều cử đại diện( xưa là 4 ông Trùm của 4 giáp Đông, Tây, Nam, Bắc) đội mâm mang lễ sang sống, bày tỏ lòng biết ơn.

Đó là đối với người mình mang ơn cứu tử, mới liên hệ giữa dân với quan. Còn Với những người dân thường, giữa quan với dân? Phú Thị tự hào có Dương Duy Thanh, một trong “quốc sỹ tứ kiệt”, đốc học Hà Nội người viết văn bia đền Hai Bà Trưng (Đồng Nhân – Hà Nội). Vì luôn xa quê nên mỗi lần về ăn tết, quan Đốc đều tới thăm hỏi tất cả những gia đình có người mất trong năm. Năm ấy, có vợ anh mõ chết. Nghĩ đây là người vị trí thấp kém nhất làng nên người nhà không ai kể Với quan Đốc. Đến khi vô tình, đốc học Dương Duy Thanh biết chuyện thì đã gần đón giao thừa. Đêm ba mươi tết, mưa rét, đường trơn. Mặc dù vậy, ông vẫn gọi người nhà cầm đuốc dẫn đường tới nhà anh mõ chia buồn, thắp nén hương và cho mấy đứa nhỏ tấm bánh chưng.

Làng quê ngày trước (và có nơi, cả đến bây giờ) không thiếu chuyện các dòng họ ghen ghét, kèn cựa, thù địch và dùng thủ đoạn trả thù nhau. Phú Thị cũng có chuyện do tranh phần xôi thịt hai họ Dương, Trần mang nhau tới cửa quan, sẵn sàng dao gậy đánh nhau. Nhưng khi hiểu ra, cụ Dương Trọng Phổ chủ động đến gặp cụ Tú Bụt họ Trần bàn việc gả con cho nhau, biến cừu gia thành thông gia, tránh cái họa một đời đi kiện ba đời thù nhau. Đó chính là đám cưới anh Dương Quảng Hàm lấy chị Trần Thị Vân, đám cưới hòa hiếu, đám cưới Việt Nam.

Trên đây là nói về nghĩa xóm tình làng. Còn trong mỗi gia đình, thì gia giáo, gia phong mà ta nôm na gọi nếp nhà? Có thể kể ra đây nhiều câu chuyện cảm động về lòng hiếu thảo của người con đối với mẹ, vói bố (không, ở đây không có biểu hiện thần hôn, quạt nồng ấp lạnh như trong sách Minh Đạo gia huấn, Nhị thập tứ hiếu giảng dạy mà là những cử chỉ hết sức giản dị, chân tính, sâu đậm bản chất dân tộc). Và cái đạo làm cha làm mẹ với sự dạy dỗ, giáo dục con cái nữa. Rõ ràng có sự nối tiếp giữa đời trước “Nhất đại trạng nguyên, bát Tiến sĩ; tam công hầu bá, lục thượng thư” với đời này một nhà Bố là giáo sư có 8 người con đều cử nhân, thạc sĩ, nhà giáo nhân dân, giáo sư Viện trưởng viện Triết, giáo sư bác sĩ Viện trưởng Viện bảo vệ bà mẹ và trẻ sơ sinh. Thật xứng với bức thư pháp đề tặng “Mô phạm truyền gia”. Kể cả việc đối xử với kẻ ăn người ỏ trong nhà nữa. Ông Nghè Phú Thị họ Chu khi pha trà mời khách, chén thứ nhất rót ra cho khách, chén thứ hai, tây nâng mời lão bộc đồng thời là ân nhân, chén thứ ba mới là của mình, uống sau. Viết “Đạo trà Việt Nam” không thể không nhắc tối chuyện này!

Có lẽ cũng phải nói đến một khác lạ, thành hoàng làng Phú Thị là ba vị công chúa con gái vua Hùng; Từ Thái Trưởng công chúa, Thiên An Dương Khánh Công chúa, Trinh Thuận Thái công chúa.

Bên cạnh “kho” truyền thuyết, thần thoại, làng Phú Thị còn lưu giữ nhiều.phương ngôn, tục ngữ, ca dao. Những câu ví “Dài như cái chợ Mễ” hoặc “Bỏ dâu bỏ rể không ai bỏ chợ Mễ hàng năm”… Giai thoại “Phúc đức gì mày cái đĩ Trinh…”. Và bài ca dao nói lên đặc điểm những làng nghề:

… Phú Thị nhuộm vải bán trăm,

Thiết Trụ nấu rượu tế thần mọi nơi

Đa Hòa đập đá nung vôi

Bằng Nha dệt cửi là nơi thanh nhàn.

Đến nay còn truyền câu nói cửa miệng.

Phú Thị là đất lưỡi vời Hay ăn là một hay cười là hai.

Nhân nói về văn hóa ẩm thực, cái “hay ăn” của dân Phú Thị, xin giới thiệu miền quê này có nhiều đặc sản: bánh cuốn (khác hẳn bánh cuốn Thanh Trì), bánh khúc (hoàn toàn không giống bánh khúc Hà Nội), bánh đúc xanh (xanh ngọc, bùi ngậy cùi dừa, lạc và nước lá gừng)… Chợ Mễ xưa còn tiếng vì có thịt chó hàng ông Giản, chả, nem, mọc hàng ông Dần Sung, ba ba, ếch tẩm bột hàng ông Trương Xuân. Rượu ngon thì nhiều không kể hết.

Làng Phú Thị xã Mễ sở huyện Văn Giang tỉnh Hưng Yên hôm nay đổi mới giàu có, mức sống đã cao hơn trước cuộc sống nông thôn ngày càng văn minh. Nhưng làng Phú Thị hôm nay vẫn lưu giữ được nhiều nét của một làng Việt cổ, làng khoa bảng, một làng văn hóa. Đó là sự tiếp nối giữa xưa với nay, cũ và mới, truyền thông cùng cách mạng.

Đọc ngay: Làng Phú Quốc, dấu chân cuối trời Nam – Kiên Giang

Đánh giá bài viết

Đọc Thật Chậm

Làng Trung Lao yêu dấu - Nam Định

Làng Trung Lao yêu dấu – Nam Định

Trung Lao là một làng quê chất phác, nằm giữa đồng bằng sông Hồng, với …

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *