Home / Làng Nghề / Cùng khám phá Làng Phong Lệ – Đà Nẵng

Cùng khám phá Làng Phong Lệ – Đà Nẵng

Quê hương Ông ích Khiêm – một văn thân yêu nước văn võ song toàn. Xứ sở lễ hội Mục Đồng, Vùng đất nhiều huyền thoại.

Tìm hiểu về làng Phong Lệ

Từ trung tâm thành phố Đà Nẵng, theo quốc lộ số một, hướng nam, khoảng chục cây số ta bắt gặp chiếc cầu sắt có tên là Cầu Đỏ (nhưng cầu màu đen) dành cho xe lửa, song song cùng chiếc cầu xi măng dành cho các phương tiện cơ giới và khách bộ hành, vắt qua sông cẩm Lệ. Dòng nước mắt đẹp (sông cẩm Lệ) nằm đúng ở vị trí vĩ tuyến 16, ranh giới được đồng minh phân định vùng đóng quân trong thời kỳ chiến tranh Pháp – Nhật ở Đông Dương. Dòng cẩm Lệ đã chia đôi làng Phong Lệ ra thành hai phần: Phong Bắc và Phong Nam. Phong Bắc là vùng bán sơn địa ít ruộng nhiều gò đồi. Thổ nhưỡng vùng này phù hợp Với các loại cây lâm thổ sản như sắn, khoai, thuốc lá, đậu phụng (lạc) và các loại đỗ… Cận kề là xứ sở thuốc lá Cẩm Lệ nổi tiếng khắp vùng, người Thừa Thiên – Huê” rất ưa chuộng. Phong Bắc ở gần sân bay chiến lược Đà Nẵng, trước đây được gọi là sân bay Nghi An, quê hương của nhà yêu nước Thái Biên, mà sau ngày Cách mạng tháng Tám thành công, thành phố Đà Nẵng được mang tên ông. Phong Nam là vùng đồng trũng, thuận lợi cho nghề trồng lúa.

Làng Phong Lệ ở đâu

Gặp mùa lụt, Phong Nam như một ốc đảo, bốn bề ngập nước. Trước đây, phía trước mặt làng có ga xe lửa Dương Sơn mang tên một làng bên cạnh. Gần ga có một vùng đất xưa kia là rừng rậm, có tên Vườn Huề (hòa). Tương truyền, ngày nọ quân phương Bắc đuổi quân phương Nam chạy đến đây, có cơ bị thua, bất ngờ trời đổ sương mù che khuất mọi lối. Quân phương Bắc chẳng nhìn thấy mô tê gì đánh rút lui. Quân phương Nam thoát hiểm. Sau đó, chúa phương Nam tìm về tạ ơn, cho xây Am thờ, phong thưởng áo mão, nhân dân quanh vùng truyền gọi là Am Bà linh thiêng. Trong Am có tượng bà bằng đá uy nghiêm, ngoài sân có hai hàng trụ đá, mỗi bên ba hòn như đội binh đứng canh. Các trụ đá được lưu truyền là những hòn đá mọc tự nhiên từ lòng đất nhô lên. Thời kháng chiến chống Pháp, một tốp lính đi càn, trưa chui vào am nghỉ. Thằng chỉ huy Pháp ngạo nghễ trèo lên bàn hương án để ngủ và bị chết, chắc do cảm bởi cái lạnh của sàn gạch. Nhân dân đồn là tên giặc đã bị Bà về vật chết. Từ đó Am càng tôn nghiêm, sùng kính, người khắp vùng thường về tế lễ. Qua năm tháng Vườn Huề nay đã thành đất thổ cư. Rừng và Am Bà cũng đã bị tàn phá qua hai cuộc chiến tranh, vừa được tu bổ trở lại.

Dân Phong Nam sống bằng nghề trồng lúa đóng gạch ngói và nung vôi. Con sống cẩm Lệ là một trong những nguồn sinh sống của nhân dân quanh vùng với nghề cào hến và lấy vỏ hến để nung vôi. Trước đây san sát hai bên sống là những lò gạch, lò ngói, lò nung vôi, ngày đêm khói lên nghi ngút.

Phong Lệ là quê hương của lễ hội Mục Đồng, một trò chơi thượng võ lâu đời của thanh thiếu niên trong làng. Vào những ngày hội trong làng sôi động suốt ngày đêm qua các buổi luyện tập và hành lễ. Từ sau Cách mạng tháng Tám, lễ hội này không còn tồn tại, hy vọng một ngày gần đây sẽ được phục hồi.

Làng Phong Lệ có một ngôi đình khá đồ sộ, mặt hướng ra phía Vườn Huề, trên một khuôn viên rộng, cây cối sum suê, nhiều cây cổ thụ trông rất thâm nghiêm. Nơi đây là hội trường sinh hoạt của cộng đồng, là bản doanh khai mạc và kết thúc của lễ hội Mục Đồng. Những năm 1943- 1944, nơi đây cũng là trung tâm của hội truyền bá Quốc ngữ của khu vực phía nam thành phố Đà Nẵng. Thời kỳ kháng chiến chống Pháp, Phong Lệ là một trong những làng bị giặc kìm kẹp dã man. Đồn giặc đóng bốn chung quanh: phía nam là đồn Dương Sơn, phía tây là đồn cẩm Bình, phía đông là đồn Qua Gián, phía bắc là đồng cồn Dầu. Phong trào giết giặc cứu nước lên cao, trên trận tuyến ở vĩ tuyến 16, nhân dân Phong Lệ đã đóng nhiều công sức và xương máu cùng Tiểu đoàn 17 (bộ đội chủ lực thành Đà Nẵng) giữ vững phòng tuyến phía nam một thời gian dài, không cho giặc Pháp mở rộng chiếm đóng. Trong thời kỳ chiến tranh chống Mỹ, Phong Lệ là một trong những vành đai diệt Mỹ, một bàn đạp của lực lượng vũ trang cách mạng tấn công vào Đà Nẵng.

Người dân làng Phong Lệ có giọng nói đặc biệt, thổ ngữ khác hẳn giọng nói người quanh vùng, rất giống giọng nói của người Bình Định (Ví dụ họ nói: tao, mày, sao, vậy thay cho tau, mi, răng, rứa… như giọng nói Quảng Nam truyền thống). Phải chăng giọng điệu này có ảnh hưởng và bắt nguồn từ vùng đất võ Bình Định? Và ở chính vùng đất “địa linh nhân kiệt” này đã sản sinh ra một văn thân yêu nước thời Tự Đức: Ông ích Khiêm, con người văn võ song toàn.

lễ rước Làng Phong Lệ

Ông ích Khiêm, biệt hiệu là Mục Chi, sinh năm 1932 trong một gia đình nông dân, bố là Ông Văn Điều. Thuở nhỏ ông theo học chữ nho với chú ruột là Ông Văn Trị. Xuất thân là một văn quan, rồi trở thành một võ tướng đầy tài năng. Cùng Thời với Nguyễn Tri Phương, Ông ích Khiêm từng cầm quân bảo vệ thành Đà Nẵng, khi thực dân Pháp đến xâm chiếm. Ông là một vị tướng có tài dụng binh, nhiều mưu lược, lập nhiều chiến công trong các trận đánh Pháp và diệt phỉ ở vùng biên giới và duyên hải phía Bắc. Ông nổi tiếng về “chiến thuật trái mù u” làm cho giặc Pháp kinh hồn, mà trong sử sách còn ghi. Ông ích Khiêm là người thẳng thắn, cương trực, không hề biết nể sợ ai. Thấy ông có tài và hay phê phán những hành động tàn bạo của bọn quan lại triều đình, chúng vừa sỢ vừa đem lòng ghen ghét, tìm cớ hãm hại ông. Những năm giữ chức Tán lý quân thứ ở các tỉnh biên giới phía Bắc, ông được Tôn Thất Thuyết yêu quý. Nhưng sau đó vì tính “ngạo”, ông bị Thuyết bắt hạ ngục. Năm 1884, ông bị triều đình Huê bắt và đày vào Bình Thuận.

Ông ích Khiêm có nhiều con. Các con trai ông như Ông Tán Nhỉ, Ông ích Thiện, Ông ích Hoắc… đều là nghĩa quân yêu nước dưới cờ Nghĩa hội Nguyễn Duy Hiệu. Các cháu nội như Ông ích Đường, Ông ích Măng… đều là những nhân vật tích cực trong phong trào chống thuế năm 1908 ở Quảng Nam. Ông ích Đường đã lãnh đạo một cuộc biểu tình chống xâu, chống thuế, vây bắt Lãnh Điềm, một tên ác ôn ở miền Tây Hòa Vang. Nhưng thất bại, ông bị bắt và bị đem chém ở chợ Túy Loan, gây nên sự căm phẫn của nhân dân trong vùng. Ngày nay ở Túy Loan còn đền thờ “Cậu Đường” có đôi câu đối:

Tinh thần thiên bất tử Nghĩa khí thế trường sanh

Sau một thời gian bị tù đày ỏ Bình Thuận, Ông ích Khiêm còn đê lại nhiều áng thơ văn bày tỏ lòng yêu nước và tính khí khái của mình. Một Thời gian sau khi giam giữ, triều đình nhà Nguyễn bắt Ông ích Khiêm nhịn đói và chết trong ngục. Năm đó ông vừa tròn 52 tuổi.

Ông ích Khiêm là một trong những danh nhân yêu nước tiêu biểu Thời chông thực dân xâm lược. Trong sử sách cũng như trong dân gian có nhiều huyền thoại về ông. Tương truyền, hồi còn theo học ở nhà chú, một hôm có khách, ông chú khoe tài học của cháu mình và sai cháu đi đun nước mời khách. Thấy cậy bé tay cầm một nạm chè, đi vào bếp, ông khách bèn gọi lại:

– Này cháu thử vịnh một câu về công việc cháu sắp làm cho bác nghe nào.

Ông ích Khiêm ngước nhìn khách trong giây lát, rồi mở mồm đọc luôn:

Giang sơn một nắm trong tay Phần lo việc nước phần hay nỗi trào.

Ông khách nghe xong, giật mình, quay sang nói với chủ:

  • Khẩu khí cậu bé tỏ ra sau này là một võ tướng hơn là một văn quan.

Ông ích Khiêm đỗ cử nhân năm vừa tròn 16 tuổi (1848). Ngày ra kinh thi cùng với chú và cũng là thầy dạy, bà thím bèn mỉa:

  • Mày mà cũng đi thi với cử à?

Thi xong, ông về quê cùng bạn mục đồng, chơi trò “đánh trận giả”. Ngày xướng danh, Ông ích Khiêm đỗ, còn ông chú hỏng thi. Ông ích Khiêm phải trở ra kinh bái mạng vua Tự Đức. Vua thấy Ông ích Khiêm quá bé, đầu còn để chỏm, không tin ở mắt mình, bèn gọi vào “Tả đài lâu viện phúc thi” và ra đề “Thiếu niên đăng khoa” để thử học vấn. Trong chổíc lát, ông làm xong bài, trong đó có một câu mà vua Tự Đức rất khen “Đắc lộ đa anh tuấn, hà tài đáp thánh minh” (Trên con đường học vấn, biết bao trang anh tuấn; nhưng ai là người báo ơn vua đền nợ nước) Ông ích Khiêm được bổ chức tri huyện Kim Thành tỉnh Hải Dương.

khám phá Làng Phong Lệ

Khi làm Tri huyện, ông đã nọc đánh một tên chánh tổng hà hiếp dân. Ông cũng đã đánh một tên cố đạo ỷ thế lực trong vùng, gây nhiều tội ác. Ông ích Khiêm bị kiện và bị cách chức trả về làng làm dân thường. Một lần đi chơi thấy bọn lính tập trận bên sống, đang xúm nhau kéo một chiếc ghe lên bò mà không được, vì tròng đánh xuôi, kèn thổi ngược. Ông có lời chê, tên quan cáu:

  • Nếu giỏi ta cho ngươi chỉ huy kéo ghe lên. Nếu không lên, sẽ bị ăn đòn!

Ông ích Khiêm dùng tiếng trống chỉ huy. Ghe được kéo lên bờ. Tên quan chỉ huy rất phục. Việc này đến tai vua, trong khi Tự Đức đang xét lại hàng văn quan võ tướng chọn người có tài cầm quân đi diệt phỉ. Ông ích Khiêm được triều đình triệu về kinh phong chức võ tướng ra biên giới phía Bắc dẹp giặc.

Ông ích Khiêm có nhiều nét tương đồng với Nguyễn Công Trứ, đầy khí phách. Ông chết ở Bình Thuận, nghe nói sau đó hài cốt được cải táng ở quê nhà. Ngôi mộ xây bằng đá trắng dưới chân núi Phước Tường hướng mặt về làng Phong Lệ là mộ Ông ích Khiêm.

Qua hai cuộc kháng chiến, Phong Lệ đã bị nhiều tàn phá, nhưng tinh thần bất khuất kiên cường của người dân bao phen làm cho lũ giặc khiếp sợ. Phong Lệ ngày nay cuộc sống yên bình, ngói hóa và điện khí hóa cả làng. Họ tự hào về truyền thống yêu nước và quê hương giàu đẹp của mình

Có thể bạn quan tâm: Làng Nhị Khê Hà Tây- Ngôi làng tiện gỗ nổi tiếng bậc nhất tại Việt Nam

Đánh giá bài viết

Đọc Thật Chậm

Làng Trung Lao yêu dấu - Nam Định

Làng Trung Lao yêu dấu – Nam Định

Trung Lao là một làng quê chất phác, nằm giữa đồng bằng sông Hồng, với …

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *