Home / Di tích / Đình / Đình Phả Trúc Lâm- Đình thờ các vị tổ sư nghề Da

Đình Phả Trúc Lâm- Đình thờ các vị tổ sư nghề Da

Đình phả Trúc Lâm là một trong ba làng thờ các vị tổ sư nghề da – giầy (nay thuộc xã Hoàng Diệu, huyện Gia Lộc, tỉnh Hải Dương hiện nay). Thực ra bên cạnh Trúc Lâm còn có Văn Lâm và Phong Lâm, tên nôm là Chắm (hoặc Trắm) trên, Chắm giữa, Chắm dưới đều có nghề giầy da.

Những điều cần biết về Đình Phả Trúc Lâm

Các vị tổ sư nghề da giầy đã sinh thành ở nơi đây, địa phương có nghề truyền thống xa xưa hiện còn đền đình thờ các vị tổ. Những người thợ khi đến Thủ đô đã lưu giữ cả truyền thống quê hương, lập chốn thờ tổ nơi làm nghề lập nghiệp mới của mình.

tìm hiểu về Đình Phả Trúc Lâm
Lễ dâng hương Đình Phả Trúc Lâm trong ngày giỗ tổ

Do địa vực hành chính di tích còn có tên thường gọi nữa là đình Hàng Hành. Đình Phả Trúc Lâm hiện ở số 40 cuối phố Hàng Hành thuộc phường Hàng Trống, quận Hoàn Kiếm, Hà Nội. Phố này một đầu là ngõ Bảo Khánh, đầu kia thông ra ngã ba phố Lương Văn Can.

Đầu thế kỷ XX, Hàng Hành được gọi là ngõ và thông với Bảo Khánh như hiện nay (ngõ cụt) thuộc thôn Tả Khánh của tổng Tiền Túc, huyện Thọ Xương tỉnh Hà Nội. Ở thế kỷ XIX, Hàng Hành là địa vực thôn Tả Khánh Thụy tổng Tiền Túc, huyện Thọ Xương.

Đình Phả Trúc Lâm thờ các vị tổ sư khai sinh nghề da – giầy ở nước ta, nghề có từ vài trăm năm trước đây. Các vị tổ nghề là tiến sĩ Nguyễn Thời Trung cùng ba người nữa là Phạm Thuần Chỉnh, Phạm Đức Chính và Nguyễn Sĩ Bân.

Thời Trung đã thi đỗ độ tam giáp đồng tiến sĩ xuất thân khoa thi năm Ất sửu (1565). Ông làm quan tới thời Mạc có đi sứ sang nhà Minh, Trung Quốc. Trong đoàn sứ bộ ông có đem theo ba người cùng quê. Theo truyền thuyết khi đoàn sứ đi tới Hàng Châu (?) có dừng chân ở lại ít ngày. Thời Trung cùng ba vị đã để ý tìm hiểu và chú ý đến nghề da giầy ở đây. Lúc đó nước ta chưa phát triển nghề này, nhất là kỹ nghệ thuộc da, làm các đồ tinh xảo. Đến Bắc Kinh, sau khi đã hoàn thành sứ mệnh! Thời Trung cùng ba người liền quay lại Hàng Châu quyết chí học lấy nghề mang về nước, về tới quê nhà, bốn vị đã đem những kiến thức mới nắm được tổ chức tại ba làng Chắm các phường thợ làm nghề. Khi nhận được sản phẩm tiến của các ông, nhà vua ưng ý, chuẩn cho ba thôn Chắm được độc quyền làm nghề.

Kể từ đó tại đây có các phường thợ da giầy. Trài qua thời gian các thế hệ thợ tiếp nối nhau truyền thụ, học hỏi, trao đổi, cải tiến nâng cao tay nghề truyền thống. Khi bốn vị mất đi dân làng tôn làm tổ nghề được thờ cúng ngay tại đền đình cùng với Thành hoàng (thời Lý) được thờ từ trước. Bốn vị đều được nhà Lê, nhà Nguyễn sau này phong sắc. Sau năm 1945 tên làng được gọi liền là “Tam Lâm”. Do làng có nghề truyền thống nên xuất hiện tên gọi những người thợ da giầy là thợ Tam Lâm.

Nghề da giầy phát triển, những người thợ tìm kiếm khai thác thị trường đã đi nhiều nơi để hành nghề mà kinh kỳ là chốn được chú ý nhiều hơn cả. Vào thế kỷ XVII – XVIII thợ da giầy đã đến kinh đô, họ sống quần tụ thành phường thợ. Phường thợ da giầy ở đất Tả Khánh Thụy và xung quanh thuộc tổng Tiền Túc, Hữu Túc, huyện Thọ Xương. Cũng do như vậy có các tên như: Hàng Hài, Hài Tượng, Hàng Da… để lại đến ngày nay. Những người thợ da giầy ghi nhớ về truyền thống của quê hương, về gốc tổ nên có nhu cầu về nơi thờ cúng tín ngưỡng. Từ đó đình Hàng Hành với tên gọi là Trúc Lâm hay gốc Trúc Lâm (phả có nghĩa là gốc) đã ra đời.

Đình Phả Trúc Lâm bên trong
Không gian bên trong Đình Phả Trúc Lâm

Đình Phả Trúc Lâm được làm ở đất của thôn Tả Khánh mà sau này trở thành phố Hàng Hành. Đinh Trúc Lâm là nơi vừa để những người thợ của cả ba làng Chắm thờ cúng các vị tổ vừa để thực hiện các hoạt động có tính nghề nghiệp, trao đổi kinh nghiệm, giới thiệu sản phẩm mới… Hiện còn giữ lệ trình tổ: mang các sản phẩm da giầy đến đệ trình, tấu cáo lên tổ tiên, về sinh hoạt lễ hội tuy có lúc to lúc nhỏ nhưng thường vẫn duy trì được đều đặn. Thợ giầy da ở các tỉnh, dù khác quê nhưng vẫn coi Đình Phả Trúc Lâm này là chung một chốn tổ.

Các bia hiện còn cho phép khẳng định thời điểm những người thợ da giầy đến Thăng Long mở mang phát triển nghề là vào khoảng thế kỷ XVII. Người thợ sống quần tu thành thôn làng rồi phường, phố. Đến thế kỷ XVIII, XIX khi đã ổn định truyền đời nhiều năm. sinh sống đông đúc thì ngôi đình được xây cất. Như bia Tự Đức Canh thân (1860) và bia Long Phi Canh ngọ (1870) có ghi: “Năm Quý hợi (tức 1863) tiến hành mua một miếng đất ở xứ Thọ Xương làm một ngôi đình lợp tranh làm nơi thờ cúng lễ tổ. Hội Đôn Tín (của những người thợ vốn ở Trúc Lâm) vào năm 1869 dựng lại đình bằng gạch ngói”. Như vậy chí ít ngôi đình cũng từ cuối thế kỷ XIX. Bia khắc năm Thành Thái thứ 5 (1893) có ghi tên những người cúng tiến của đồ sửa ba tòa tiền đường.

Ngôi đình hiện nay là một công trình kiến trúc nhỏ, phía ngoài là cổng tam quan liền hè phố qua sàn hẹp vào trong là tiền đường và hậu cung. Đình làm hướng nam, có bố cục mặt bằng kiểu “tiền chữ Nhất, hậu chữ Đinh”.

Nội dung các bia ghi rõ nhiều việc về lịch sử xây dựng ngôi đình cũng như tu sửa sau này, ghi tên của mọi người góp tiền, công đức. Ba tấm bia hiện được gắn trên tường hồi của di tích.

Xem tiếp: Sự tích ít ai ngờ của Đình Đông Hương (Đền Hàng Trống)

Đánh giá bài viết

Đọc Thật Chậm

Sự tích ít ai ngờ của Đình Đông Hương (Đền Hàng Trống)

Sự tích ít ai ngờ của Đình Đông Hương (Đền Hàng Trống)

Đình Đông Hương (Đền Hàng Trống) Ngôi nhà mang biển số 82 Hàng Trống, bé nhỏ, …

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *