Home / Di tích / Đền / Đền Trình Chùa Hương – Ngũ Nhạc

Đền Trình Chùa Hương – Ngũ Nhạc

Phải gọi đền Trình này là đền Trình – Ngũ Nhạc để khỏi lẫn với một đền Trình khác: đền Trình trên lối vào động Tuyết. Đối với khách lễ bái thì đây là nơi trình với thần linh trước khi vào chùa. Đối với khách thăm cảnh thì đây có thể coi như nơi khách trình diện với thiên nhiên, cất một lời chào khi bắt đầu bước vào cõi đẹp.

Những điều cần biết về Đền Trình chùa Hương

Đền Trình này quy mô không to nhưng cân xứng có tầm vóc của năm quả núi (Ngũ Nhạc) làm nền xanh cho nó. Những mảng trắng của tường, những mảng nâu sẫm của mái, và những đường thẳng cong… tất cả không lộ hẳn ra mà chỉ lấp ló trên nền cày, đá. Ngày trước, ngoài cửa, ngoài sân đền Trình có voi đá, tượng đá và hai cột đèn lồng cũng bằng đá chạm khắc khá đẹp, đã bị đại bác giặc Pháp bắn nát khi chúng đóng  gần đấy.

Đọc ngay: Tổng hợp các Đình Đền thờ Chu Văn An

đền trình chùa hương

Trước đây đền Trình rậm rạp những bụi tre, những bụi cây vả chen với nhiều loại cây rừng. Cọp thường lui tới. Những người yếu bóng vía lại thây cả ma nữa. Các bà đứng tuổi trong làng kể chuyện đời cũ, còn nói đến cọp Sao Sa, ma Đường Sáo hoặc nền đất Trụ lắm hùm tinh, nền Đình lắm chó sói. Xưa, trẻ con đang khóc mà nghe thấy người lớn đem chuyện ma giấu trâu, cọp rình người ở Hốc Hợp, Đồng Bèo ra dọa là thôi không dám khóc nữa. Sao Sa, Đường Sáo, đất Trụ, nền Đình, Đồng Bèo, Hốc Hợp… đều ở quanh đền Trình. Ông Nguyễn Văn Vượng trong Ban quản trị chùa trước đây, còn lưu trữ trong trí nhớ cả một kho chuyện cọp. Khi còn nhỏ ông thường theo bố’ ra ở đền Trình vì bố làm công việc thủ từ. Một đêm, ông mạo hiểm ra sân, suýt nữa chạm trán với một ông cọp xuống uống nước hay bắt cá ở bờ suối.

Bởi tàn dư của một thứ tôn giáo nguyên thủy, cọp được coi là một vật thiêng. Sơn thần là cọp. Tới một trình độ cao hơn, ở đây người ta không thờ thần cọp nữa mà thơ thần – ngươi. Thần – ngươi là một nhân vật anh hùng trong dã sử. Nhưng bóng dáng dũng mãnh của thần – cọp vẫn phảng phất trong bóng dáng dũng mãnh của thần – người. Nhân vật anh hùng dã sử được thờ ở đây là một bộ tướng của vua Hùng đã có công dẹp giặc, cứu nước.

Còn thần phả thì ngày trước đã mấy ai được xem. Bây giờ các cụ sẵn sàng cho xem mà không ngại bị “thánh phạt”. Xin tóm tắt câu chuyên ghi trong thần phả như sau: “về đời Hùng Vương, có một người dòng dõi vua Hùng tên là Hùng An, quan huyện Siêu Loại thuộc Kinh Bắc, lấy vợ họ Nguyễn, tên là Liễu, dòng dõi thần núi ở làng Yến Vĩ. Một hôm vợ chồng vào rừng Hương Sơn kiếm củi, người vợ bị cọp cõng đi mất. Chồng thương vợ, đi tìm khắp trong rừng mấy ngày liền không thấy. Bỗng nghe thấy tiếng vợ vẳng từ xa. Nhìn ra thì không thấy ngươi mà chỉ thấy một con hổ cái nói tiếng người. Lời nói, giọng nói của hổ sao mà buồn thế! Rằng : “Nhân duyên của chàng với thiếp chỉ có thế thôi. Thiếp xin để lại cho chàng một đứa con…” Nói rồi hổ cái biến mất, để lại một cái bọc – một bào thai. Hùng An mang cái bọc về. vỏ bào thai rắn quá, An lấy rìu bổ cũng không núng. Ông đem cái bọc trở vào rừng, đặt trong núi. Được mười bốn tháng, bọc tự nứt như một bông hoa nở. Một đứa con trai ra đời. Chú bé có tướng mạo kỳ tạ: mặt vuông, tai to, tay dài quá gốì, chân có bảy cái lông, lưng cổ hai mươi tám cái chấm như sao. Một đêm sấm sét đùng đùng, thiên thần hiện ra, trao cho Hùng An một thanh gươm báu, dặn để dành, sau sẽ có lúc phải dùng đến. Hùng Lang (chàng họ Hùng) – con của Hùng An – lớn lên, văn võ đều giỏi. Gặp lúc vua Hùng mở khoa thi kén chọn người hiền tài, Hùng Lang trúng tuyển. Đất nước đang yên ổn, bỗng giặc Ân kéo đến cướp nước ta và gây bao nhiêu tai họa cho dân ta. Vua sai sứ giả đi khắp các nơi tìm người đánh giặc cứu nước. Hưởng ứng lệnh vua, có Phù Đổng Thiên Vương (như mọi người đều biết). Lại có nhiều anh hùng nghĩa sĩ khác như Hùng Lang – nhân vật trong thần phả này. Hùng Lang sẵn có thanh gươm báu mà thần đã trao cho bố khi trước, đem quân đi, phối hợp với đại quân của Phù Đổng Thiên Vương đánh đâu được đấy. Đặc biệt là ông tiêu diệt được tướng Thạch Linh, một bộ tương lợi hại của giặc Ân.

Có thể bạn quan tâm: Những thông tin thú vị về Đền Liễu Giai- Thập Tam Trại

Thắng trận, Hùng Lang về ở làng Yến Vi. Sau khi chết, được làm phúc thần của làng”. Trong tín ngưỡng cổ sơ, hình ảnh người dũng tướng họ Hùng và hình ảnh mãnh hổ được đồng nhất với nhau, lồng vào nhau. Làng Yến Vĩ xưa có tục lệ dùng lợn sống làm lễ vật hiến tế vào ngày hội làng tháng tám. Ông lềnh chịu trách nhiệm nuôi lợn tế phải trông nom, săn sóc lợn một cách đặc biệt, không bao giơ dám nói nặng với lợn. Đến ngày hiến lễ, phải tắm lợn cho sạch, bỏ lợn vào cũi, rước đến gốc cây cạnh đền, tế lễ xong để đấy, ban đêm sơn thần đến xơi cho là may. Tục lệ ấy bãi bỏ đã lâu, những người làng vẫn tự hào với truyền thuyết về một nhân vật anh hùng.

Nghe tên cầu Hội, người ta cứ tương tên cầu được gọi thế chỉ vì nó đón khách vào hội. Chính ra, tên cầu đặt theo tên làng: làng Hội Xá.

Theo các cụ thì cầu Hội được dựng lên từ năm Tự Đức thứ 13 (1859) nhân một chuyến phân định địa giới giữa các làng. Nhưng hãy khoan nói đến chuyện địa giới nhỏ hẹp. Hãy ngắm vẻ đẹp của cầu. Có lẽ người dân trong làng, khi bắc cầu, không bị chi phối bởi cái động cơ địa giới đối với các làng lân cận, nên mới tạo nên được một cái cầu đẹp đến thế.

thăm quan đền trình

Suối đi đến quãng này gặp một cái cầu nhỏ nhỏ bắc ngang lại thêm được một nét vào tranh sơn thủy. Cầu hình thang, trông thoáng, không vướng mắt. Thân cầu gồm mấy thân gỗ dài, hai bên có bậc leo lên. Đò xuôi, đò ngược qua lại thoải mái dưới cầu. Dưới cầu vẫn có khoảng trời rộng. Nữ sĩ Hằng Phương ngồi trên đò Suối thấy:

Mây luồn đáy nước qua cầu

Thuyền đi tưởng núi quay đầu trông theo.

Từ chân cầu bên trái – kể từ phía bến Yến đi vào – đến chùa Thanh Sơn giống như một cái nhà gạch bình thường, nhưng vào trong cũng thấy hay hay. Vài gian chùa xinh gọn ở bên cạnh một cái hang khá sâu với những nhũ đá hình hoa, hình quả, hình thú, hình người. Có những nhũ đá, gõ vào nghe như tiếng chuông, tiếng khánh… Chùa này, sau những ngày bị máy bay Mỹ bắn phá, sư bà Đàm Châm, 80 tuổi, vào đây cùng với người Hội Xá phá hoang, xây dựng.

Hương Đài ở phía sau Thanh Sơn. Leo núi một lát, xuống đường đồng rồi lại leo núi một lát nữa là đến. Hương Đài tựa như một tổ chim lớn trong hang núi. Có động tất có nhũ đá. Nhũ đá Hương Đài không tỉa tót nhưng có dáng khoẻ, chắc.

Từ chân cầu bên phải – vẫn kể từ phía bến Yến đi vào – có lối vào làng Hội Xá. Hội Xá là quê vợ của nhà thơ Tản Đà. Tản Đà vốn yêu cảnh:

Sóng gợn sông Đà, con cá nhảy Mây trùm non Tản, cánh diều bay. Ở nơi quê ông, nhưng ông cũng rất yêu cảnh Hương Sơn. Hồi trẻ tuổi, sau một trận thất tình, ông đã leo lên non Tiên, làm văn tế… Chiêu Quân.

Có lẽ vì nể cái tình của ông đối với Hương Sơn, nên một số người thân quen đã đưa ông về đây nhân dịp cải táng di hài của ông vào năm 1963. Nhà thơ Chế Lan Viên và mấy nhà thơ khác được Hội Nhà văn Việt Nam cử đi, cùng một số đồng chí cán bộ Văn hóa tỉnh dự cuộc đưa Tản Đà về Hương Sơn. Nay Tản Đà nằm ở cánh đồng Cửa Quán thôn Hội Xá, xã Hương Sơn, gần một cái quán ngói mát mẻ, nơi nghỉ giải lao của những người thợ cấy, thợ gặt.

Xem tiếp: Đền Ngọc Sơn- Nhân chứng lịch sử với thời gian

Đánh giá bài viết

Đọc Thật Chậm

Lịch sử Đền Đằng Châu (Đền Mây) Hưng Yên

Lịch sử Đền Đằng Châu (Đền Mây) Hưng Yên

Thần họ Phạm, huý Bạch Hổ, quê ở Đằng Châu, Kim Động (Hải Hưng). Bà …

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *