Home / Di tích / Đền / Đền thờ Đặng Tất, Đặng Dung (đền thờ Hai Đại Vương)

Đền thờ Đặng Tất, Đặng Dung (đền thờ Hai Đại Vương)

Đại Vương là tước hiệu tôn vinh của đời sau. Thật ra, hai vị được thờ trong đền là hai viên tướng phò tá nhà hậu Trần, tức là hai cha con Đặng Tất, Đặng Dung, mất vào đầu thế kỉ XV. Đền hiện ở xã Tùng Lộc, huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh.

Những điều cần biết về Đền thờ Đặng Tất, Đặng Dung

Từ ngã ba Nghèn theo trục đường liên huyện đi về hướng Đông khoảng 5km đến địa phận xã Tùng Lộc, huyện Can Lộc chúng ta thấy một ngôi đền cổ kính nằm dưới chân núi Hồng Lĩnh. Đó là đền thờ Đặng Tất, Đặng Dung, còn gọi là đền Hai Đại Vương.

Đặng Tất, Đặng Dung là hai cha con, hai danh tướng của nghĩa quân kháng chiến trong buổi đầu chống quân Minh xâm lược. Đặng Tất quê ở làng Tả Hạ, xã Tả Thiên Lộc, nay là xã Tùng Lộc, xuất thân trong một gia đình trâm anh, trung nghĩa, nổi tiếng là người học giỏi, cương trực, thi Hương đỗ cống sĩ, thi Hội trúng tam trường, văn võ toàn tài. Ông đã từng làm quan dưới triều nhà Trần. Tháng 8 – năm 1401, ông được Hồ Quý Ly bổ Đại tri châu nắm toàn quyền vùng Hoa Châu (nay là Quảng Bình). Đặng Dung – con trai đầu của Đặng Tất cũng là người có tư chất thông minh, có tài văn võ và có nghĩa khí.

Đọc thêm: Tổng hợp các Đình Đền thờ Chu Văn An

đền thờ đặng tất

Đầu thế kỉ XV, nhà Minh kéo hàng chục vạn quân sang xâm lược nước ta gây bao cảnh đau thương, tang tóc. Nhà Hồ quyết tâm lãnh đạo nhân dân kháng chiến. Đặng Tất được Hồ Quý Ly giao cho cùng với HỐI Khanh trấn giữ vùng Thăng, Hoa. Nhưng sự nghiệp kháng chiến của nhà Hồ nhanh chóng bị thất bại. Tháng 5-1407, ngay sau khi nền đô hộ dân ta. Mùa thu năm 1407, ngay sau khi nền đô hộ của giặc vừa mới thiết lập, nhân dân hai huyện Đông Lan và Trà Thanh thuộc phủ Diễn Châu đã nổi dậy, tiếp đó phong trào kháng chiến lan ra nhiều huyện khác trong cả nước, tiêu biểu là hai cuộc khởi nghĩa của hai quý tộc nhà Trần: Trần Ngỗi (con thứ của vua Trần Nghệ Tông) dựng cờ khởi nghĩa ngày 1-11-1407 tự xưng là Giản Định Hoàng đế, thường gọi là Đế Ngỗi. Trần Quý Khoáng (cháu Trần Nghệ Tông) lên ngôi vua ở Chi La (Đức Thọ) ngày 2- 9-1409 lấy niên hiệu là Trùng Quang. Sau khi lên ngôi, Trần Trùng Quang đã cùng Trần Ngồi thống nhất lực lượng tôn Trần Ngỗi lên làm Thái Thượng Hoàng, còn mình xưng vua nhà hậu Trần. Đặng Tất và Nguyễn Cảnh Chân là hai thủ lĩnh chủ chốt của Đế Ngỗi. Theo kế sách của Đặng Tất, lực lượng của nghĩa quân Đế Ngỗi đã lập chiến công đầu tiên là tiêu diệt lực lượng địch và 600 tên tay sai trong vùng, tạo căn cứ địa vững chắc làm bàn đạp phát triển ra cả nước. Sau đó, lợi dụng sự sơ hở của địch, nghĩa quân chiếm lại được một số vùng. Đến tháng 6- 1408, cả dải đồng bằng rộng lớn từ Tân Bình, Thuận Hóa đến Thanh Hóa đã thuộc quyền kiểm soát của nghĩa quân. Tháng 12-1408, Đặng Tất kéo quân ra Đông Đô (Hà Nội), trên đường tiến quân, nhân dân khắp nơi nhiệt liệt hưởng ứng. Đến Tràng An, hào kiệt trong vùng kéo về ủng hộ ngày càng đông. Nghĩa quân đã đánh tan 4 vạn quân Minh ở Bô Cô (nay gần thị xã Ninh Bình). Đây là chiến thắng lớn chứng tỏ tài thao lược và lòng dũng cảm tuyệt vời của tướng Đặng Tất.

Sau trận này, Đế Ngỗi định thừa thắng tiến ra đánh chiếm Đông Đô, Đặng Tất lại chủ trương truy bắt hết bọn giặc cùng tay sai, để phòng ngừa mối họa về sau. Vua tôi mưu tính dùng dằng. Vừa lúc ấy viện binh giặc kéo đến. Quyết định của Đặng Tất đã làm hỏng thời cơ chiến thắng, đồng thời gây tai tiếng cho bản thân. Lòng ngờ vực của Đế Ngỗi trỗi dậy, bọn nịnh thần nhân cơ hội thổi thêm vào (vì ông vốn là quan nhà Trần, sau đi với nhà Hồ chống Minh, rồi trá hàng quân Minh để tính mưu kế, phát triển lực lượng kháng chiến, bấy giờ lại làm trái ý bề trên). Kết quả Trần Ngỗi tin theo lời chúng, tháng 2-1409 cho người đến ám hại Đặng Tất và Nguyễn Cảnh Chân. Được tin cha đã hy sinh, Đặng Dung vô cùng đau đớn và căm giận. Nhưng ông biết cân nhắc thù nhà nợ nước, nén cái đau riêng, gạt mối tư thù quyết chí tiếp tục sự nghiệp của cha, diệt trừ quân xâm lược. Chỉ một tháng sau khi cha mất, Đặng Dung cùng với Nguyễn cảnh Dị (con Nguyễn Cảnh Chân) đem quân từ Thuận Hóa ra Thanh Hóa, rước một tôn thất nhà Trần là Trần Quý Khoáng lên ngôi vua, tổ chức lực lượng kháng chiến thứ hai. Khi hai lực lượng hợp nhất, Đế Ngỗi và Trần Trùng Quang thân chinh mang quân ra Bắc, Đặng Dung cùng các tướng khác như Nguyễn Súy, Nguyễn Cảnh Dị trực tiếp chỉ huy đánh chiếm nhiều nơi, Quân Minh hoảng sợ vội đóng kín các đồn ải, chờ viện binh, vua Minh sai Trương Phụ mang thêm quân sang nước ta. Chúng đánh phá nhiều nơi, Đế Ngỗi phải rút quân về Mỹ Lương (Nho Quan) bị quân Minh bắt cùng Thái Bảo Trần Hy Cát. Trước tình hình đó, Trần Trùng Quang sai Đặng Dung đem quân về giữ của Nam Tử (Hải Dương), xây dựng phòng tuyến đánh lại Trương Phụ. Quân của Đặng Dung đứng vững được khá lâu, nhưng sau đó vì thiếu lương thực, lại bị quân giặc đánh phá liên tục quyết liệt, quân Đặng Dung phải rút lui. Để bảo toàn lực lượng, nghĩa quân rút về Nghệ An, quân Minh đuổi theo đi đến đâu, chúng đốt phá chém giết tối đó, lòng dân hết sức căm thù. Tháng 6-1410, Nguyễn cảnh Dị, Đặng Dung lại tiến quân ra đánh Hạ Hồng, Bình Than, nhân dân khắp nơi nổi dậy hưởng ứng. Ó Thanh Hóa có Đồng Mặc đã chém giết được nhiều địch, được vua Trùng Quang phong Tri phủ Thanh Hóa. Đầu năm 1412, trước sự tấn công ồ ạt của giặc, nghĩa quân quay trở lại Nghệ An, đến năm 1413, cuộc khởi nghĩa lâm vào tình cảnh khó khăn.

Sau khi củng cố lực lượng, Trương Phụ kéo quân vào đánh Hoa Châu, Đặng Dung và Nguyễn Súy trấn giữ sông Thái Gia (Quảng Trị). Chính nơi đây đã diễn ra trận Ái Tử (hay trận Thái Gia) vào tháng 10-1413, một trận thắng lớn do Đặng Dung chỉ huy, tiêu diệt được hơn nửa số quân giặc, song trận này cũng không thể xoay chuyển được tình thế của nghĩa quân. Quân Minh tập hợp lực lượng phản công. Đặng Dung phải rút quân. Chúng vào đánh chiếm Hoa Châu, Thuận Hóa. Tháng 12-1413, Đặng Dung và Nguyễn Súy trên đường sang Xiêm La (Thái Lan) bị quân Trương Phụ bắt được trong rừng Thuận Châu (Quảng Trị). Vua Trần Trùng Quang bị giặc bắt ở Cam Muộn – Lào. Tháng 1-1414 giặc Minh dẫn Đặng Dung, Nguyễn Súy, Trần Trùng Quang về Đông Quan, dụ dỗ mua chuộc, nhưng không được, chúng đưa 3 ông về Yên Kinh bằng thuyền. Trần Trùng Quang, Đặng Dung đã nhảy xuống sông tự tử, Nguyễn Súy cũng tự tử sau khi đánh chết những tên lính canh giữ trên thuyền.

Năm 1428, sau khi toàn thắng quân Minh, Lê Lợi đã phong cho những người có công với nước, trong đó Đặng Tất, Đặng Dung được phong bốn chữ “Tiết nghĩa công thần”. Các triều đại kế tiếp đều có sắc phong liệt hai ông vào hàng trung nghĩa, về sau nhân dân lập đền thờ ở chính làng quê của hai cha con ông. Hàng trăm câu đối, thơ liễn khắp nơi gửi về trong dịp khánh thành đền thờ. Đền được xây dựng trên khu đất rộng 3320 m2, bao quanh đển có hàng cây xanh tốt. Đây là vùng dân cư khá đông đúc và sầm uất. Phía trước đền là con sông Yến, chảy từ Hồng Lĩnh ra sông Nghèn rồi ra biển. Nhìn vào tổng thể di tích được kiến trúc theo kiểu chữ nhị (=) bao gồm bái đường và thượng điện. Nối liền bái đường với thượng điện là một hệ thống tường vây được xây bằng gạch vôi vữa (theo lời kể lại của nhân dân, kiến trúc ngày trước gồm có cả ba tòa hạ, trung và thượng điện). Phía trước cổng có hai cột nanh đồ sộ, trên đỉnh có đắp nổi hai con nghê chầu bằng mảnh vỡ thủy tinh ghép lại. Năm 1968, trong thời gian chống Mỹ xâm lược miền Bắc, máy bay Mỹ đã ném bom phá hủy hai cột nanh, đánh sập hạ và thượng điện. Năm 1970, nhân dân đã dọn lại, làm thêm bái đường, chuyển trung điện lên vị trí thượng điện. Kiến trúc thượng điện nay mang dáng dấp cuối Lê đầu Nguyễn.

Có thể bạn quan tâm: Lịch sử hình thành Đền Thụy Hương

bằng công nhận di tích đền đặng tất

Bái đường được xây dựng trên diện tích 4,6m X 7m gồm 3 gian, hai hồi xây tường bịt nóc, mái lợp ngói tây. Nhà không có cửa ra vào, trước và sau thông nhau. Phía sau nối liền với sân thượng điện. Thượng điện được xây dựng trên diện tích 7m X 4m, kiến trúc theo kiểu tam oai tứ trụ, ba gian hai hồi lợp ngói âm dương, gồm có 3 cửa ở 3 gian, gian giữa cửa rộng hơn hai gian hai bên làm cửa chính. Các bức trang trí ở đây tuy không có chạm lộng bốn mặt như thường thấy ở các công trình kiến trúc cổ nhưng ở đây cũng thể hiện được tài năng của các nghệ nhân dân gian như hình hoa chanh, hoa thị trên các hệ thống con dấu, hình cỏ cây, hoa lá, tứ linh… trên tất cả các phần đuôi xà hạ đều được chạm trổ công phu tinh tế. Cách bài trí nội thất đơn giản, các đồ thờ không nhiều, ở gian giữa đặt chiếc án thư hình chữ nhật bằng gỗ lim khá đẹp, trên đó có lư hương, bát hương, Chiếc bình sứ, cùng với một số đồ thờ cọc sáp, mâm quả, bát chén… Giữa án thư được Bốtrí 2 long ngai sơn son, chạm hình lưỡng long chầu nguyệt. Hai bên trái và phải án thư đặt giá gỗ để các loại vũ khí như gươm, giáo, quả chùy, hai lá cờ màu đỏ, viền bằng kim tuyến nhũ màu vàng, giữa thêu 4 chữ ‘Tiết nghĩa trung quân”. Phía trước cửa ra vào có bức đại tự “Võ bị gia – Trung thần hiếu tử – Văn khoa phái”. Hai gian hai bên có đôi câu đối:

– “Chính khí tranh quang Nguyễn phụ tử Nghĩa thanh xướng khí Lê quân thần”.

Nghĩa là:

(Sáng hơn cả vua tôi nhà Nguyễn

Cuộc khởi nghĩa này nổ ra mới có vua tôi nhà Lê).

– “Tinh sảng tại thiên, danh tại sử Huân lao ưquốc, đức ưdân”.

Nghĩa là:

(Tinh thần còn mãi với trời đất, lưu sử sách Công lao với nước, với dân để lại tiếng thơm

muốn đời).

Hàng năm cứ đến ngày 5 tháng 3 âm lịch, con cháu dòng họ và nhân dân địa phương lại làm lễ tế tại đền, ghi nhớ công lao đóng góp của hai cha con Đặng Tất, Đặng Dung cho đất nước, quê hương vào đầu thế kỷ XV.

Xem thêm: Đền Voi Phục (Đền Thủ Lệ)- Một trong thăng long tứ trấn

Đánh giá bài viết
product image
Số người đánh giá
5 based on 1 votes
Tên Công Ty
Tiền Âm Phủ Quyết Vượng
Tên Sản Phẩm
Đền thờ Đặng Tất, Đặng Dung (đền thờ Hai Đại Vương)

Đọc Thật Chậm

Đền Bảo Lộc Nam Định & Những chuyện chưa từng kể

Đền Bảo Lộc Nam Định & Những chuyện chưa từng kể

Đền Bảo Lộc ở Tòa đình chính, thờ Đức Đại Vương và các tướng lĩnh …

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *