Home / Di tích / Đền / Đền Mưng & Lễ Hội Thánh Lương Tam Giang

Đền Mưng & Lễ Hội Thánh Lương Tam Giang

Lễ hội Thánh Lưỡng – Tam Giang thần Mẫu (hai chị em) được mở trong một vùng rộng lớn ở huyện Nông Cống gồm nhiều làng tham gia. Không gian lễ hội diễn ra trên một dải sông Lãng Giang (từ xã Trung Chính, Trung Thành, Trung Ý đến xã Tế Tân) dài khoảng 15 cây số với nội dung là “Em (Thánh Lưỡng) đến thăm chị (Tam Giang).

Thời gian lễ hội là từ mồng Một tháng Ba đến mồng Tám tháng Ba ở cả hai đền. Nhưng lễ hội chính từ ngày mồng Năm đến mồng Tám tháng Ba, ngày mồng Tám tháng Ba là ngày rước Thanh Lưỡng xuống đền thờ Vua Bà, sáng rước xuống, chiều tối rước về đền Mưng. Đó là tục lệ.

Lễ hội vùng đền Mưng – đền Vua Bà diễn ra như sau:

1. Đền Vua Bồ xã Tế Tấn

Đền xây trên đất làng Đông Chu (làng Bái Hạ) rất đồ sộ, cột rất lớn, hoành tải rất to (nay không còn).

Theo truyền thuyết có 5 làng “vớt Bả” lên mai táng, lập đền thờ gọi là “Họ Nội”, đó là: làng Hồi Chứ (Bái Thượng), làng Đông Chu (Bái Hạ), làng Trát Thượng (Đạt Tam), làng Trát Hạ (Đạt Tiến) và làng Nhán Nhượng (Làng Nháng).

Truyền thuyết còn kể: Khi xác Bà trôi đến ngã ba sông, có cha con ông thuyền chài họ Trương thấy và vớt lên bãi thuộc làng Tế Độ. Vì vậy làng Tế Độ cứng lập nhà thờ Bà (tranh tre gồm nhà trong, nhà ngoài). Ngày mồng Tám tháng Ba, làng Tế Đô và tổng thủy cơ ở ngã ba sông cũng tham gia đánh cá thờ và làm lễ ở đền Vua Bà.

đền mưng

Ngoài ra, còn có các làng Họ Ngoại. Đổ là các làng thuộc Tổng Cao và Tổng Vân không trực tiếp vớt bà nên đỡ phần bên ngoài. Cứ đến lễ hội đền Vua Bà thì Họ ngoại đem “cơm nắm và cá nhám khô” lên để góp vào Lễ hội giỗ Bà.

Lịch lễ hội đền Vua Bà như sau:

  • Mồng Một tháng Ba: Các làng ở đây lên Đền Mưng để “hỏi ky” (tức là thắp hương đền Mưng để xin thánh cho phép làm ky”,
  • Mồng Ba tháng Ba. Làng Đạt Tam, Đạt Tiến, Đông Chu, Hồi Chử, Nhân Nhượng, lên đền Mưng đem theo cơm sào vó giập tham gia đánh cá ở Hón Mối để thờ (làm gỏi cá cúng thánh).
  • Mồng Năm tháng ba: Tham gia tế ở đền Mưng.
  • Mồng Sáu tháng ba: Đãng bắt cá đánh cá thờ khúc sông trước đền Vua Bà, phường Thuỷ Cơ và Tế Độ tham gia.
  • Mồng Bảy tháng Ba: Hoàn tất các công việc.
  • Mồng Tám tháng Ba: Chính ky.

+ Đón đoàn thuyền Thánh Lưỡng từ đền Mưng xuống.

+ Đại tế

+ Kết thúc vào buổi chiều, làm thủ tục để thuyền Thánh Lưỡng trở về đền Mưng.

Ở đền Vua Bà, vào tháng Giêng còn có lệ Tế Cẩu Đinh, Lệ tục chứ yếu là làm Bánh dầy và Cỗ tam sinh.

  • Cỗ bánh dày: Ruộng cấy lúa, cất lấy bông và tuốt bằng tay chữ không được vò đạp bằng chôn, xay giã làm gạo… tất cả công việc trên đều do nam giới (trai tân) làm, kiêng nữ giới. Lâm bánh thì nếp đồ xôi dẻo, đùm vò đệm lác, dùng tre non làm chầy. Đệm lác đủm xôi đặt giữa nền nhà, trai tân cầm chày đâm nhuyễn. Dùng lòng đỏ trứng gà bóp tơi để xoa tay bắt bánh cho khỏi dính.
  • Cỗ Tam sinh: Ba làng Trát Thượng, Trát Hạ và Nhân Nhượng đảm nhiệm. Cỗ Tam sinh là bò, Dê, lợn; phải là bò, Dê, lợn đen, đực không thiến, mua của gia đình hòa thuận, trong nhả không có ai đang cữ thai sản. Mua xong, bò Dê thì dắt, lợn thì khiêng, đoàn đi thành hàng quanh đền 3 vòng. Cứ mỗi vòng ông từ hô “Bò-mấy?”. Người mua nói giá tiền và ông từ hô “cho sát” (tức là cho giết thịt). Xong vòng hai hỏi lợn, vòng ba hỏi Đê cứng đều trả lời và ra lệnh “cho sát”. Các con vật không được cắt tiết mà thui cho đến chết (kiêng máu). Sau đó thui chín, bày cỏ cả con trước bàn thờ Vua Bà. Đặt ba con cười lên nhau: dưới là bò, giữa là lợn, trên là Dê.

2. Đền Mưng ở xã Trung Thành:

Đền xây ở làng Mưng (Côn Minh) trên bờ sông Lãng Giang, nhìn sang bờ sông bên kia là các làng Bí Kiẻu, Tống Công, Sở Thôn, làng Chợ Thượng… Xưa kia, đền Mưng nguy nga nhất vùng, có tượng văn võ bằng đá, tượng Lồi bằng đá, ngựa đá, chó đá… Trong đền có đôi câu đối:

Thế đức lưu truyền Tuỳ đại nghiệp Sùng tu hiển ứng địa Côn Minh (Đức ở đời truyền lại từ thời Tuỳ đại nghiệp, Thánh chọn nơi và hiền ứng là đốt Côn Minh). Đền Mưng có 14 làng quanh vùng phụng sự, tính theo đơn vị ngày nay là:

  • Làng Trung Thành:

Làng Mưng (tức Côn Minh)

Làng Múng (tức Lương Mộng)

Làng Cáo (tức Yên Qụả). – Xã Trung Chính:

Làng Ty (tức Ty thôn)

Làng Đông (tức Thanh Hà)

Làng Bi Kiều Làng Tống Công Làng Sở Thôn Làng Mao Giáp Làng Đông Bàng

  • Xã Hoàng Sơn: Làng Hồi Cù Làng Thanh Liêm

Làng Yên Mỗ

Đền quay lưng xuống sông Lãng Giang, có Bến Đá (dài rộng) ở sau đền bước từ bờ đê xuống sông. Đền Mưng một năm có 2 lệ: Lệ “Bơi dua” vào Tháng giêng và lệ “Chèo thờ” vào Tháng Ba. “Chèo đua’ do các trai tráng đảm nhiệm, trai bơi thuyền giật giải về cho lồng, còn “chèo bơi” do các cô gãi của làng đảm nhiệm rước thuyền Thánh ngự xuống đền Vua Bả “thãm chị”. Vì vậy dân lang trong vùng nói về trai gái các làng: Trai thi mạnh gái thi mềm.

+ Bơi đua tháng Giêng

Tháng Giêng làm lẻ tế Thánh Lưỡng Đền Mưng. Đền Mưng thuộc loại Quốc tế trước có quan tỉnh về hành lễ, sau giao cho quan huyện về chủ trì. Vì vậy có Lệ rước văn (sau này chỉ sang huyện ly rước văn) về để khai mạc cuộc tế Thánh.

Để chuẩn bị cho cuộc Bơi đua thuyền, ngày 18 tháng Chạp (trước tết), các làng dự Bơi thuyền đã kéo ván để ghép thuyền. Thuyền có 3 tấm: đáy và hai hông. Các tấm ván này làm sẵn để mỗi năm đua thuyền lả kéo ra ghép lại 3 tấm thành thuyền. Mỗi tấm ván (bằng gỗ táu) nặng đến 5, 6 tạ nên có hò kéo ván hô nhửng câu “nghịch ngợm” để… “kéo cho nhẹ”.

  • Bồng bênh, bồng bêhh chỉ cò

Lao xao chí phượng, bắt bò… nướng ăn… này!

  • Gấc chân cho đến vườn cà

Vật mụ hàng gà… gà gảy te te… này

  • Cái thuyền là cái thuyền khôn.

Có nói đến ỉ… thì thuyền mới đi… nảy!

Ván kéo ra bờ sông, ghép thành thuyền chắc chắn, làm lễ tế thổ công và… cho thuyền “ăn cháo” (bằng nước lá cây bời lời giả ra) để chuẩn bị cho cuộc đua.

Trên Bến Đá trước đền có dựng áng tế. Nơi đây có đặt hương án thờ thánh và là nơi các quan về dự tế để ngồi xem bơi thuyền. Lịch bơi thuyền lồ:

  • Ngày mồng hai Tết: Bơi thử trước đền Mưng.
  • Ngày mồng ba Tết: sang huyện rước Văn. Các thuyền bơi đua đoạt giải ở xã.
  • Ngày mồng bốn Tết: Các thuyền bơi đua đoạt giải 3 xã.
  • Ngày mồng năm Tết: Chèo thuyền ở thượng lưu, khúc sông trước chợ Thượng.

Có 5 thuyền dự chèo bơi chìa thành “phân nhất”, “phân nhị”… gồm:            ,

  • Phân nhất: Các làng Bi Kiều và Yên Mỗ (1 thuyền).
  • Phân nhị: Các làng Thanh Liêm và Hồi Cù (1 thuyền).
  • Phân tam: Các làng Tống Công, Mau Giáp, Thừa Bình (1 thuyền).
  • Phân tứ: Các làng Thanh Hà, Làng Ty, làng Mưng, làng Múng (1 thuyền),
  • Phân ngũ: Riêng làng Cáo (Yên Quả) 1 thuyền.

Năm thuyền chuẩn bị luyện tập, củng cố thuyền cho

chắc chắn để bơi đoạt giải về cho làng. Làng nào đoạt giải thì dân làng tin răng cả năm may mắn. về sau, chỉ còn 3 thuyền đua chứ không đủ 5 thuyền.

Khúc sông bơi đua đoạt giải 3 xã trước đền Mưng được cắm tiêu từ Cầu (Cầu Quan) đến trước chợ (chợ Thượng dài độ 500 mét đua 3 vòng gọi là “ba tiêu ba cầu” (ba vòng quay thuyền qua cọc tiêu 3 lần về qua cầu 3 lần)(l) và các thuyền đua nhau về trước, cập Bến Đá để giật giải đã treo sản ở đây trước hương án thờ Thánh. Giải treo trên 3 cây sào cắm chĩa ra mặt sóng.

Trước khi xuất phát, thuyền của các “phân” chầu mũi hướng lên Bến Đá trước hương án. Theo hiệu lệnh của Ban lẻ hội, trống chiêng đổ hồi. Trong ba hồi mõ, quân bơi ở các thuyền cẩm giầm chèo khua vào be thuyền tiếng nghe rộn ràng náo nức. Dứt ba hổi mõ, 99 quân bơi (của 3 thuyền) nhất loạt cầm dèm bơi ngang đầu, đầu cúi gục để bái Thánh, gọi là “Cầm giầm bái tạ”. Sau đó, cờ lệnh phát, các thuyền thứ tự bơi vòng trước bến và vào cuộc đua. Mõ ở các thuyền nổi lênh, tiếng “dỏ huậy” ở các thuyền vang dội mặt nước đều răm rắp. Ba ông cầm lái (của 3 thuyền có các trai làng phụ giúp) vừa lái thuyền vừa giậm chân nhấn để cho mũi thuyền vểnh lên, rẽ nước vượt băng băng, sóng vỗ rầm rập, trông rất hùng dũng.

Người cầm mõ đứng giữa thuyền đánh mở “Cốc! Cốc! Cốc!” để bắt nhịp bơi cho đều, vừa hò lên để các trai bơi “dô” cho hăng hái và giữ nhịp bơi rất khẩn trương.

Khi vào nước rút thì tiếng hô hiệu lệnh càng khẩn trương

Trên dọc hai bên bờ sông, dân các làng đứng xem đông nghịt, cổ vũ náo động, chạy theo dọc bờ sông theo thuyền, có người lội cả xuống bờ nước mà reo hò, động viên thuyền của làng mình, có khi vì nhiệt tình với làng mà các bà các chị đâm… “chửi nhau”, không khí phấn khích, cuồng nhiệt gây một ấn tượng khó quên.

hội đền mưng

Và khi bắt đầu vào Bến Đá để giật giải thì càng khẩn trương, khẩu lệnh càng ngắn:

Ơ dô huậy – dô huậy

Bơi dài – dô huậy

Huých dài – dô huậy

Huých – dô huậy

Húc – Hức dô huậy

Người cầm lái (chỉ huy) quyết định cho thuyền thắng thua, cho nên phải chọn người giàu kinh nghiệm, vững và mưu trí: Mặt khác các người phụ lái và đánh mõ phải ăn ý và phối hợp động tác nhịp nhàng, ăn khớp

Thuyền lao nhanh vào bến để Thủ quân đứng trên thuyền giơ tay giật giải trên một con sào, giật giải nào thì được giải ấy trước sự nô nức của hàng ngàn người xem đứng trên bờ reo hò náo động cả dòng sông.

Ở các làng, các bà các chị trong làng chuẩn bị cơm rượu để đón quân bơi làng mình. Đoạt được giải thì cả làng náo nức vui mừng, mà nếu thua thì cả làng buồn, trai bơi bị dè bửu phê phán, góp ý để ngày hôm sau đua bơi giật giải.

+ Chèo thờ tháng ba:

Lệ chèo thờ ở đền Mưng vào đầu tháng Ba để xuống tế ở đền Vua Bà (ờ làng bảy xã Tế Tân – Tức làng Đổng Chu và Hồi Chử) được chuẩn bị rất chu đáo.

– Thuyền rồng; Có 5 chiếc. Không có thuyền sẵn mà Ban Hội lễ phải đi thuê thuyền các nơi, loại thuyền to của tổng thuỷ cơ (thuyền chài). Nhà thuyền được thuê cũng rất vinh dự hầu Thánh và tin là Thánh sẽ phù hộ.

  • 2 thuyền Phát đường: còn gọi là thuyền “khai lộ”. Trước mũi thuyền có 1 mặt nạ màu đỏ và mỗi thuyền có đặt một đồi “dao cò” bôi vôi trắng, tượng trưng cho việc xua đuổi tà ma trên đường đi.
  • 1 thuyền Hương ẩn: còn gọi là thuyền Cu Soạn, trên bàn ở giữa thuyền có đặt “com nắm, cá nhám khô” theo tục (không được thiếu) cùng hoa quả, xôi oản. Sau lễ hội “cơm nắm, cá nhám khô” được chia theo thứ bậc để dân làng “làm khước”.

Thuyền cùng có mặt nạ màu đen ở trước mũi thuyền.

  • Thuyền Chính ngự: còn gọi là thuyền Thánh ngự. Thuyền to, trang hoàng lộng lẫy, mặt nạ đầu thuyền sơn đen. Giữa thuyền đặt ngai sơn son thếp vàng để ngày mồng Tám rước tượng Thánh (Thánh Thẻ) xuống, đặt ngồi ở ngai.
  • 1 thuyền Phù giá: chở các đồ lặt vặt phục vụ cho các thuyền kia.

Từng khóa chèo thờ, mỗi nãm phân công cho các làng chuẩn bị thuyền và nữ chèo. Ví dụ khóa cuối cùng, gần đây nhất phân công như sau:

  • Bi Kiều, Tống Công, Sơ Thôn: 2 thuyền Phát dường
  • Các làng Đông, Ty, Mưng, Múng: thuyền Thánh ngự.
  • Làng Yên Quả (làng Cáo); thuyền Hưomg án và Phù giá.

+ Đội nữ chèo: còn gọi là nữ quan. Các làng tự tuyển nữ chèo thuyền làng mình phụ trách, chọn gái thanh tân, có thân hình đẹp, có giọng hát hay, gia đình “sạch sẽ” không kể giàu nghèo, sắm sửa quần áo do gia đình tự lo liệu, có bà con giúp đỡ, ai cũng muốn “phô” con gái nhà mình, làng mình đẹp nhất, sang nhất.

Các nữ quan phải tập luyện hàng tháng trong nhà, gọi là “chèo cạn” tập bắt cái “hò khoan” cho nhịp nhàng và tập hát các câu hát cho thuộc, chèo trên sân nhà, buộc róng luồng làm “giả” mạn thuyền để tập.

– Chèo bơi: nhịp điệu khoan thai, phấn hò được đệm là “Huậy! lô ta…” “Dô huây, dô ta, bò là “dô huãy”, thường dùng hò trên đường dài. – Chèo đua: Gấp gáp khẩn trương. Giọng xướng cũng nhanh và mạnh, còn phần đệm chỉ có: “Ớ khoan”.

Ngoài thuyền rồng và đội nữ chèo do các làng chuẩn bị, làng Mưng còn có voi, hổ và múa lân. Voi, hổ, làn đàn bằng tre, chân hổ và chân voi thì may bằng vải đính vào thân để người trước người sau lồng chân vào, vác voi, hổ lên đầu rồi nhảy múa đi lại như voi và hổ sông. Trò voi hổ và múa lân diễn trên bờ sông, trên đường xuống đền Vua Bà.

Lịch đại tế và chèo thờ ờ đền Mưng từ mồng Một tháng Ba đến mồng Tám tháng Ba được tiến hành như sau:

+ Ngày mồng một: – Buổi sáng: nữ quan cầm chèo hát và diễn ở sân đền sau diễn trò chèo thờ ở đền Mưng.

  • Buổi chiều: Làng Bi Kiều diện tích Sơn Hậu trước đền.

+ Ngày mồng Hai:

  • Buổi sáng: Làng Mưng diễn chèo vở “Thục Vân” (hiếu nghĩa): nữ quan đứng quanh sân chèo.
  • Buổi chiều: nghi.

+ Ngày mồng Ba:

  • Buổi sáng: các làng dọc sông Lâng Từ Ty Thôn đến Bến Đá Hón Môi, đàng trên sông đánh cá thờ, có các làng Đạt Tam, Đạt Tiến đem nơm sào lên tham gia. Được cá to nạp cho Đền Mưng, tế xong mỗi con được thưởng 1 cái bánh dày cho người đánh cá.

+ Ngày mồng bốn:

Thuyền rồng chèo lơ lửng trên sông, con gái con trai hát đối

+ Ngày mồng Năm:

  • Buổi sáng: Làng Múng (Lương Mộng) lên Mở cửa đền. Làng Múng được gọi là Làng Em út Không rõ vì sao trong 11 làng thì chỉ có làng Múng được “Mở cửa đền” và mở cửa đền xong thì việc tế lễ mới bắt đầu.

Xem thêm: Đền thờ Nguyễn Biểu (Tên cũ là Miếu Cổ Bình Hồ)

Đánh giá bài viết
product image
Số người đánh giá
no rating based on 0 votes
Tên Công Ty
Tiền Âm Phủ Quyết Vượng
Tên Sản Phẩm
Đền Mưng & Lễ Hội Thánh Lương Tam Giang

Đọc Thật Chậm

Đền Bảo Lộc Nam Định & Những chuyện chưa từng kể

Đền Bảo Lộc Nam Định & Những chuyện chưa từng kể

Đền Bảo Lộc ở Tòa đình chính, thờ Đức Đại Vương và các tướng lĩnh …

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *