Home / Di tích / Đền / Đền Chín Gian (đền Hiếu Trâu) có gì đặc biệt

Đền Chín Gian (đền Hiếu Trâu) có gì đặc biệt

Đền Chín Gian là một ngôi đền khá đặc biệt, do bà con người dân tộc Thái ở miền Tây Nghệ An xây dựng. Tiếng Thái gọi là Xờ Pù Quái, nghĩa là đền Hiếu Trâu, ở huyện Quế Phong, tỉnh Nghệ An. Đền rất có qui mô, tuy bị phá hủy từ năm 1960, nhưng nay vẫn còn dấu tích.

Lịch sử Đền Chín Gian

Những người Thái ở huyện Quì Châu, Quì Hợp, Quế Phong (Nghệ An) đều xem mường Tôn là quê gốc của mình. Mường Tôn là gốc, tiếp sau là 8 mường nữa cùng phát triển. Bà con đã lập một ngôi đền hàng năm làm lễ hiếu trâu để nhớ đến nguồn. Đền vốn có tên là Xò Pù Quái, nhưng vì có 9 gian (của 9 mường) nên thường gọi là đền Chín Gian. Khi đến cúng, người ta đưa trâu đến làm lễ (gọi là đền Hiến Trâu là vì như thế).

Đền Chín Gian nằm ở phía Nam mường Tôn bên dòng Nậm Rải. Ngôi đền gồm chín gian đúng như tên gọi của nó. Thực ra không ai biết rõ đền được khởi dựng từ thời nào. Nhưng qua nhiều lần tu sửa, đến đầu thế kỉ XX, ngôi đền đã được xây cất rất lớn bằng các loại vật liệu bền chắc (gỗ lim, gạch nung, vôi cát trộn mật mía) và được lợp bằng ngói vảy.

Xem thêm: Đền Voi Phục Thụy Khuê- Đền thờ hoàng tử Linh Lang

sự tích đền chín gian

Hội lễ ở đây được tổ chức ba năm một lần theo chu kì: năm thứ nhất mở hội ở các bản (Xên bản); năm thứ hai mở hội ở cấp mường (Xên mường); đến trung tuần tháng tám năm thứ ba thì mở hội đền Chín Gian. Hội kéo dài ba ngày đêm liên tục với nhiều hình thức sinh hoạt vừa mang tính tôn nghiêm trang trọng của Lễ; vừa có tính chất sôi nổi, vui nhộn của Hội.

Nội dung chính của hội đền Chín Gian là lễ hiến sinh của chín mường ở chín gian đền. Đối tượng của hiến tế là Then Phạ (vua trời) và Tạo Lo Ỳ. Lễ vật chính dùng trong hiến tế là trâu. Đã thành lệ, dân mường Tôn bao giờ cũng phải hiến trâu trắng (quái khao) các mường còn lại cúng bằng trâu đen (quái đâm). Đó là những con trâu mộng, không kể trâu đực hay trâu cái, chưa dùng trong cày kéo và không có cac khuyết tật trên cơ thể. Ngoài một con trâu, mỗi mường còn phải có thêm 9 con lợn – 90 con gà nhỏ, 90 gắp cá khô và một chum rượu cần (lẩu xá) trước kì mở hội từ 3 đến 6 tháng, ông “Khoàn mưòng” – một chức dịch do mường cử ra, là người lo các việc có liên quan tới các nghi thức, lễ tiết các mường – tiến hành thu gom tiền từ các bản và mua sắm lễ vật cho mường của mình.

Đến ngày hội, Tạo mường tập hợp các bô lão chức dịch và trai tráng trong mường rước lễ lên đền. Đám rước do Tạo và các bô lão dẫn đầu. Các chức dịch đôn đốc đám trai mường gánh cá, gánh gà, khiêng lợn, khiêng rượu và dắt trâu đi sau. Cuối cùng là đoàn người đi xem hội. Khi tới nơi, các mường chia nhau đưa lễ vật vào gian đền dành riêng cho mình. Trong mỗi gian đó, người ta kê sạp thành 4 bậc từ thấp đến cao. Bậc dưới cùng đặt 9 phần cá, mỗi phần 10 gắp. Bậc thứ hai sắp 9 phần gà, mỗi phần 10 cốn: Bậc thứ ba đóng 9 cỗ thịt lợn. Riêng con trâu đến ngày thứ hai mới được mổ thịt vì bày trên tầng cao nhất. Chính giữa gian đền là chum rượu cần, trong có cắm 9 cặp cần trúc.

Tất cả các khâu chuẩn bị cùng như toàn bộ quá trình hiến sinh được một ông “Mo Một” có uy tín cao nhất trong vùng trống coi. nhưng người trực tiếp làm công việc hành lễ trong mỗi gian đền lại là một “ú mo” (bà mo). Khi “ú mo” cúng có một ông “Pì” đánh chiêng và thổi kèn đệm, một ông “Chà” (giúp việc) sửa soạn lễ vật. Đặc biệt mỗi mường phải cử ra một người đàn ông khỏe mạnh, nhiều con và được mọi người yêu mến đóng giả là chồng bà mo và ngồi bên bà trong suốt quá trình hành lễ. Người ấy được gọi là ông “Ập”. Ngoài ra, mỗi mường còn chọn lấy 6 hay 8 cô gái có giọng hát hay để hát và múa phụ họa cho bài cúng của bà mo. Các cô gái này được lựa chọn kĩ và tập luyện chu đáo từ trước ngày hội.

Theo quan niệm của đồng bào Thái ở đây, đường về mường Phù – mường Trời, nơi ở của các Then Phà và Tạo Lo Ỳ – có nhiều cửa ải. Tối mỗi ải đều phải hiến một thứ lễ vật cho các vị thần giữ cửa mới được đi qua. Vì vậy trong ngày thứ nhất của lễ hội, người ta chỉ cúng bằng cá, gà và lợn. Sang ngày thứ hai mới tiến hành nghi thức “háp quái” (nộp trâu). Trước khi giết trâu, “ú mo” dẫn Tạo và các cụ già cầm đuốc đi quanh con trâu của mường mình 3 vòng, tở ý đồng lòng dâng trâu. Sau đó mọi người mói bắt tay vào mổ thịt trâu và cỗ thịt trâu được đặt lên bậc sàn cao nhất của gian đền. Bà mo làm lễ, “háp quái” suốt ngày đêm thứ hai đến chiều ngày thứ ba mới xong. Sau lễ “háp quái” thịt trâu được đem nấu tại chỗ cho mọi người cùng ăn. Thịt ăn không hết thì bở lại hoặc đem thả xuống suối, không ai được đem phần về nhà. Khác với các cuộc hiến tế ở mường bản hay ở mỗi gia đình, ông mo và Tạo bản, Tạo mường thường được biếu phần đùi sau của con trâu hoặc phần đùi trước của con lợn, ở lễ hội đền Chín Gian các ông mo, bà mo và Tạo mường, tạo bản không được giành phần riêng bất kì thứ gì.

Nếu như không khí của lễ hiến sinh trong đền trang trọng bao nhiêu thì các hoạt động vui chơi, các trò thi dân gian bên ngoài đền lại vui nhộn bấy nhiêu.

Ở cuộc thi bắn nở, mỗi mường cử ra 9 đấu thủ vào đua tài. Đích dành cho các xạ thủ là một lưỡi dao ngắn và sắc cắm ở cự li 20 bước chân hướng lưỡi về phía những người bắn. Mỗi xạ thủ dự thi được bắn 3 phát, ai chẻ được 3 mũi tên tre của mình thành 6 mảnh đều nhau hơn cả được coi là thắng cuộc. Phần thưởng của cuộc thi này là mảnh vải vuông do các cô gái tự dệt, một hộp đựng thuốc bằng bạc và một túi da đựng trầu cau.

Các cuộc thi vui khác như kéo co, ném còn diễn ra trong những ngày hội cũng thu hút nhiều người tham gia. Các chàng trai, các cô gái đua nhau cổ tài khéo léo nhằm đem phần thắng về cho muồng của mình. Nhưng sôi nổi và tình tứ hơn cả phải kể đến các hình thức diễn xướng dân gian mang đậm sắc thái dân tộc như nhảy sạp, lăm, khắp và nhuôm.

Đọc thêm: Đền thờ Lê Thái Tổ- Trên bờ phía tây Hồ Gươm

đền chín gian quế phong

Nhảy sạp và múa vòng (lăm) được tổ chức ở nhiều địa điểm quanh đền, vào các buổi tối và kéo dài đến khuya. Hình thức múa sạp ở đây cũng giống như ở Tây Bắc Việt Nam hay Thượng Lào. Trên một bãi đất rộng bằng phẳng người ta kê hai cây luống song song cách nhau 3 mét, 18 người gõ sạp chia thành 9 cặp ngồi đối diện nhau sau mỗi cây luồng. Mỗi cặp cầm một đôi “xênh” bằng nứa nhở, dùng để gõ sạp làm nhịp cho các cặp múa. Tiết tấu của điệu múa sạp thường nhanh với các động tác mạnh và dứt khoát. Tuy nhiên các cặp gõ xênh và nhảy đôi bao giờ cũng là một đôi một nam một nữ. Vì vậy điệu múa không chỉ sôi nổi, vui tươi mà còn thấm đậm chất chữ tình. Với điệu múa vòng tiết tấu có chậm và uyển chuyển hơn, cung bậc tình cảm đó cũng thể hiện sự sâu lắng, thiết tha hơn. Ở mỗi vòng lăm, các cặp nam nữ tay trong tay nhịp nhàng nhẹ bước theo các làn điệu trữ tình trầm bổng. Thống thường người Thái ở đây múa vòng đơn, xoay chiều vòng theo chiều ngược với chiều kim đồng hồ tức là vòng từ bên trái qua bên phải của mỗi người. Nhưng cũng có những đám múa vòng đôi, một vòng trong, một vòng ngoài. Ở trường hợp này hai vòng xoay ngược chiều nhau, Lời của các điệu hát trong múa vòng có thể lấy từ kho tàng dân gian cổ truyền song cũng có thể là những lời ca được ứng tác ngay tại chỗ. Người ta gọi các làn điệu ấy là “khắp xư” (hát thơ) và “khắp chiêu” (hát gọi). Trai gái của các mường có thể tham gia ở một hay nhiều đám vui tùy thích. Vì vậy đã dẫn đến sự nảy sinh nhiều mối quan hệ mới giữa các thành viên của các mường.

Riêng với các hình thức hát xướng “khắp”, “nhuôn” thì dấu hiệu liên quan tới các nghi thức tín ngưỡng còn biểu hiện rõ nét hơn. Ở mỗi gian đền, khi bà mo hành lễ, đằng sau thường có 6 hoặc 8 cô gái hát đệm. Bài cúng của bà mo kể về cuộc hành trình lên mường Phà. Trong cuộc hành trình ấy có đoạn đi đường sông, có đoạn đi đường bộ. Khi bà mo cúng tới chỗ phải đi thuyền, các cô gái “khắp nhụm hơ” (dậm đẩy thuyền), tới chỗ vua ỗ, các cô lại “khắp chầu pô” (hát lạy vua) v.v… Nội dung của các điệu hát phục vụ lễ hiến sinh thường lấy từ chính các bài cúng hoặc phóng tác theo đó và được các bà mo tập luyện cho các cô trong nhóm hát từ trước kì hội.

Ngoài hình thức hát xướng trong lễ hiến sinh, “khắp xư” (hát thơ), “khắp chiên” (hát gọi) cho các điệu múa vòng, một hình thức “khắp” nữa cũng rất phổ biến trong lễ hội di tích đền Chín Gian và được nhiều người hưởng ứng là “khắp báo xao” – hát trai gái giao duyên. “Khắp báo xao” có nhiều làn điệu với những lời ca giản dị. ở hình thức này lời hát thường được ứng tác tại chỗ, nhưng cũng có thể là những câu ca dao, ngạn ngữ được vận vào trong những hoàn cảnh cụ thể. Ngôn ngữ tình cảm ở đây được thể hiện khéo léo qua các giọng hát nghiệp dư mộc mạc nhưng chân thành và đầy gợi cảm. Không khí ngày hội, những giọng ca mê đắm, những ánh mắt tình tứ đã tạo điều kiện thuận lợi cho tình yêu đôi lứa nảy nở. Nhiều cặp trai gái đã nên vợ nên chồng từ sau đám hội. Đó là những phần thưởng còn cao quí hơn nhiều so với các tặng phẩm vật chất khác.

Xem chi tiết: Đền Voi Phục (Đền Thủ Lệ)- Một trong thăng long tứ trấn

Đánh giá bài viết
product image
Số người đánh giá
5 based on 1 votes
Tên Công Ty
Tiền Âm Phủ Quyết Vượng
Tên Sản Phẩm
Đền Chín Gian (đền Hiếu Trâu) có gì đặc biệt

Đọc Thật Chậm

Cùng khám phá Lễ hội đền Hai Bà Trưng

Cùng khám phá Lễ hội đền Hai Bà Trưng

Làng Đồng Nhân là nơi có đền thờ Hai Bà Trưng Trắc và Trưng Nhị, …

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *

Google+